Search This Blog

Thursday, June 9, 2022

Chiến lược, nguồn lực, hiệu quả

Chiến lược, để làm gì?
Chiến lược là quyết định lựa chọn con đường phù hợp nhất để tối ưu hoá nguồn lực thực tế để đạt mục tiêu nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Cho từng giai đoạn, tồn tại sống sót ngắn hạn & phát triển dài hạn.
Có 3 từ khoá chính: Mục tiêu, Tối ưu hoá nguồn lực & Hiệu quả.
Mục tiêu
Không rõ ràng về mục tiêu khó gọi là chiến lược. Chiến lược thể hiện tầm nhìn của lãnh đạo đạt được gì hôm nay và ngày mai. Mục tiêu sống sót, tồn tại hay tăng trưởng? Mục tiêu dẫn đầu, thách thức hay núp bóng? Chưa biết mình là ai, mình sẽ là ai và đi về đâu sao gọi là chiến lược. 
Tối ưu hoá nguồn lực
Anh có gậy đánh kiểu gậy, có súng chơi kiểu súng, có tên lửa hạt nhân chiến lược thể hiện cái thế của kẻ có tên lửa. Nguồn lực nào chiến lược đó. Một chiến lược của doanh nghiệp 1000 tỷ chắc chắn khác doanh nghiệp 1 tỷ.
Đây là điểm khác nhau về cách tiếp cận chiến lược của các học giả & doanh nghiệp, khác nhau giữa doanh nghiệp A với doanh nghiệp B.
Các học giả có khả năng khái quát và tổng hợp từ nhiều tình huống khác nhau để đưa ra quan điểm chiến lược mang tính tổng quát về nguyên lý. Doanh nghiệp lớn hay nhỏ, ngành nghề khác nhau đều có thể học được điều gì đấy từ các lý thuyết chiến lược được đúc kết. Tuy nhiên khối doanh nghiệp tiếp cận chiến lược ở góc nhìn thực tế hơn. Các lãnh đạo doanh nghiệp thành công, qua những gì tôi biết qua phạm vi dự án tư vấn brand strategy đã làm, không phải vì biết nhiều lý thuyết chiến lược hơn các doanh nghiệp khác. Nhưng họ là những người biết vận dụng một cách linh hoạt mối quan hệ giữa nguồn lực họ có trong tay và mục tiêu họ muốn đạt được trong mỗi giai đoạn phát triển. 
Hiệu quả 
Có chiến lược hơn không có chiến lược ở hiệu quả. Chiến lược tốt hơn chiến lược kém ở hiệu quả.
Người làm chiến lược giỏi là cùng một nguồn lực như nhau (tiền, người), bối cảnh cạnh tranh như nhau nhưng biết đạt mục tiêu trong thời gian ngắn hơn & ít tốn kém thời gian, tiền bạc hơn.
Nếu có chiến lược nhưng không tác động gì đến performance & results thì chiến lược đó cần xem lại.
CEO, không quan trọng đọc nhiều hay ít về lý thuyết chiến lược, miễn là ông ta có tư duy chiến lược để giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất với nguồn lực thực tế họ có trong tay. Còn CEO có cả tư chất về tư duy chiến lược & biết vận dụng thông minh lý thuyết chiến lược nữa thì nhân đôi sức mạnh.
Quản trị chiến lược là lĩnh vực khoai nhất. Vì đòi hỏi cùng lúc cả hai kỹ năng là phân tích chi tiết, thậm chí rất tiểu tiết & kỹ năng tổng hợp khái quát. Giữa mịt mùng ma trận phải chọn một đường ra. Thật hại não.
BrandSon/Interloka

Wednesday, June 8, 2022

Luận bàn về Tri thức

Luận bàn về Tri thức

Định nghĩa

Khi luận bàn về một sự vật hay hiện tượng, trước hết chúng ta phải xác định một định nghĩa cho nó. Vậy Tri thức là gì ?

"Tri thức" có vai trò như là một từ của một ngôn ngữ, đồng thời, "Tri thức" cũng có vai trò là sự diễn tả nguồn gốc, sự phát triển và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.

Dưới phương diện là một từ của một ngôn ngữ, "Tri thức" có thể được hiểu một các rất dễ dàng bằng cách dở một cuốn từ điển ngôn ngữ bất kỳ ra, và đọc mục từ "Tri thức" ở trong đó. Ví dụ trong từ điển tiếng Anh Oxford, Tri thức (Knowledge) được giải thích là : "Tri thức là những gì mà bạn đã học. Tri thức tổng quát (General Knowledge) là hiểu biết về nhiều thứ khác nhau". Nói tóm lại, "Tri thức" nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học là một khái niệm rõ ràng và dễ hiểu.

Dưới phương diện là sự diễn tả nguồn gốc, sự phát triển và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, Tri thức có ý nghĩa Triết học của nó. [1]

Để có thể xem xét về ý nghĩa Triết học của Tri thức, chúng ta phải xem xét đến nguồn gốc và sự phát sinh ra các sự vật và hiện tượng. Hiện nay các nhà khoa học đều thừa nhận là có một sự nhất trí hoàn toàn giữa các trường phái Triết học Đông phương cổ đại và các nhà vật lý học hiện đại về nguồn gốc, cấu tạo và các quá trình hoạt động của vũ trụ [2].

Theo kinh Vệ đà của Ấn độ giáo, vũ trụ được phát sinh ra từ một thể gọi là Cũnyatâ. Theo Vô song nguyên lý của Phục Hy thì nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực. Trong Đạo đức kinh, Lão tử khẳng định nguồn gốc của vũ trụ là cái Vô. Kinh Hoa Nghiêm của Phật giáo cho rằng vũ trụ xuất phát từ Không. Triết lý Nhật bản phát biểu rằng vũ trụ bắt nguồn từ Kù. Tất cả các khái niệm trên dịch nghĩa về phương diện Triết học là "Vũ trụ tinh khí tiền phân cực", và được mô tả như một thể thống nhất, trong đó không có sự khác biệt về chiều của không-thời gian, không có các khái niệm nhị nguyên như nhanh-chậm, nóng-lạnh, xa-gần, trên-dưới... Chỉ khi thể thống nhất này phân cực tạo thành vũ trụ, thì những khái niệm nhị nguyên này mới hình thành.

Theo vật lý học hiện đại, vũ trụ được hình thành từ một vụ nổ lớn (big bang) của một thể thống nhất, trong đó không-thời gian và các loại vật chất là một sự đồng nhất hoàn toàn, không có các khái niệm khác biệt theo bất kỳ một hệ quy chiếu hay một phép đo cho bất kỳ một đại lượng nào.

Nguồn gốc, sự phát triển và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ là sự bao trùm lên tất cả, còn ngôn ngữ là quy ước của con người, do đó, việc nhận thức và giải thích vũ trụ, nguồn gốc và các tiến trình của nó bằng ngôn ngữ chặt chẽ là điều không thực hiện được, mà con người phải nắm bắt chúng bằng trực giác. Các nhà tư tưởng lớn như các triết gia thời cổ đại và của Ấn độ giáo, Phật giáo, Lão giáo, Thần đạo... và những nhà vật lý hiện đại như Werner Heisenberg, Niels Bohr, Paul Dirac, Anbert Einstein, Stephen Hawkins... đều khẳng định tính hạn chế của ngôn ngữ trong việc biểu diễn Nguồn gốc và các tiến trình của vũ trụ và đề ra các giải pháp khác nhau cho việc biểu diễn chúng trong các công trình nghiên cứu của mình. Ấn độ giáo biểu diễn những khái niệm này thông qua hệ thống các huyền thoại, tranh tượng và các vũ điệu tôn giáo của mình. Vô song nguyên lý của Phục Hy biểu diễn chúng thông qua đồ hình Thái cực và Âm-Dương bát quái [3]. Đạo đức kinh của Lão tử và kinh Hoa nghiêm của Phật giáo chọn lối dùng ngôn ngữ trừu tượng và cô đọng để truyền thụ ý niệm về nguồn gốc và mối tương quan của vạn vật tới người đọc. Phật giáo Thiền tông của Trung quốc, về sau có ảnh hưởng rộng lớn tới Nhật bản lại chủ trương nhận thức tức thời bằng ngộ. Các trường phái vật lý hiện đại lại biểu diễn chúng bằng các biểu đồ không-thời gian và các phương trình toán học phức tạp trong thế giới vật lý thiên văn cũng như vật lý hạ nguyên tử (subatomic). Điều đáng kinh ngạc là hiện nay người ta đã chứng minh được là có sự đồng nhất trong việc biểu diễn các tiến trình của thế giới giữa các hình thức biểu hiện khác nhau : tượng thần Shiva, vũ điệu của thần Vishnu trong Ấn độ giáo, sự biến dịch của Thái cực, Bát quái, sự ẩn dụ về mặt ngôn ngữ trong Đạo đức kinh, kinh Hoa nghiêm, sự chứng ngộ trong một trạng thái đồng nhất về không thời gian của Thiền... và các học thuyết, biểu đồ, phương trình của vật lý thiên văn và vật lý hạt nhân hiện đại.

Chúng ta có thể thấy rằng, bởi vì Tri thức (hiểu theo nghĩa Triết học) là sự biểu diễn cho một khái niệm không thể kiến giải được bằng ngôn ngữ thông thường, nên bản thân Tri thức cũng không thể kiến giải được bằng ngôn ngữ thông thường. Đối với không gian vô tận, chúng ta không trực tiếp nhận biết được nó, nhưng chúng ta nhận biết về sự tồn tại của không gian bởi những vật chứa đựng trong nó, và qua các hệ quy chiếu tương đối mà chúng ta quy ước nên để cảm nhận được một phần các chiều của nó. Như vậy, để cảm nhận về Tri thức, các học giả cũng dựng nên những hệ trục quy chiếu tương đối, để kiến giải những gì biểu hiện ra thành sự vật có thể quan sát và phân tích được của Tri thức.

Các hoạt động nghiên cứu về tri thức

Hiện nay có nhiều học thuyết biểu diễn tri thức khác nhau, nhưng có thể chia "trục quy chiếu" tri thức ra làm hai loại chính : Loại thứ nhất, nhìn nhận vai trò của tri thức trong các tiến trình hoạt động, và loại thứ hai là phân tích tri thức dựa trên các thuộc tính được quy nạp từ các sự vật tạm gọi là vật thể có tri thức. Cả hai loại trục này đều có những hạn chế của nó, bởi vì nó chỉ là hình chiếu của Tri thức, chứ không phải là bản thân Tri thức.

Loại thứ nhất (một vài luận điểm về cách xây dựng học thuyết này được trích từ một tác giả khác) xem xét các tiến trình dưới góc độ bao gồm ba thành phần có liên hệ với nhau như sau:

1) Tri thức.
2) Hoạt động.
3) Sản phẩm tạo ra bởi hoạt động.

Trong đó tri thức đóng vai trò chỉ dẫn, hoạt động là sự thực hiện, sản phẩm tạo ra không phải là một cái bất kỳ mà là vật chất với một thứ tự mới được xác định rõ ràng bởi tri thức và thứ tự ban đầu của vật chất (sản phẩm tinh thần là thể hiện của một thứ tự mới trong bộ não). Sau đó, những học giả của trường phái này đi tới một phép quy nạp, thay ba thành phần nói trên bằng ba thành phần mang tính tổng quát hơn:

[chỉ dẫn; sự thực hiện; kết quả được quy định trong chỉ dẫn]

Sau đó, họ chỉ ra rằng hệ thống tiến trình nêu trên đó không chỉ tồn tại trong con người, mà còn tồn tại trong các hệ thống khác, ví dụ:

[gen; sự trao đổi chất; protein]

Tại đây, chúng ta thấy ngay điểm sai của lập luận. Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, sinh vật sử dụng thông tin về cấu tạo của gen để thực hiện quá trình trao đổi chất, nhằm hình thành sinh vật, sống và phát triển. Như vậy, gen đóng vai trò là nơi chứa thông tin cần cho quá trình sống của sinh vật, chứ không phải là vật thể có Tri thức, tương tự như quyển sách dạy nấu ăn đóng vai trò là nơi chứa thông tin mà người nấu bếp căn cứ vào đó để nấu thành món ăn, chứ quyển sách không phải là Tri thức, cũng không phải là vật thể có Tri thức.

Tiếp đó, họ tiếp tục quy nạp để mở rộng định nghĩa của Tri thức thành "Tri thức là những cấu trúc vật chất xác định có khả năng đóng vai trò chỉ dẫn trong một hệ tiến trình". Dựa trên các kiến thức về sinh học phân tử, họ cũng khẳng định là Tri thức không nhất thiết phải nằm trong bộ não con người, mà nó hình thành từ khi có sự sống, và gen chính là cấu trúc Tri thức đầu tiên. Điều này sai. Xét định nghĩa "Tri thức là những cấu trúc vật chất xác định có khả năng đóng vai trò chỉ dẫn trong một hệ tiến trình" áp dụng cho một hệ thống sau: một computer được nạp một chương trình tự động nhận hai số vào từ bàn phím, và in tổng của chúng ra màn hình. Như vậy chương trình tự động hóa này đóng vai trò chỉ dẫn cho việc chấp nhận việc nhập số, và sản phẩm là tổng của hai số đó được in ra màn hình. Tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy là trong cái hệ thống này chả có cái gì gọi là Tri thức hay Trí tuệ cả, mà chỉ là một tập hợp các bit 0 và 1 tạo thành chương trình đọc bàn phím, cộng và in ra màn hình. Trong trường hợp này, đây chỉ là một cơ chế tự động hóa cứng nhắc, mù quáng, chỉ thực hiện một điều được ra lệnh cho nó. Việc tự động hóa cứng nhắc, mù quáng tự thân nó đã phản lại ý nghĩa về hoạt động Tri thức. Chúng ta có thể chỉ ra hàng tỉ hệ thống khác như thế, ví dụ dây cót đồng hồ chỉ dẫn việc chạy cho kim đồng hồ, nhưng chả ai bảo cái dây cót đồng hồ là Tri thức cả.

Cách xây dựng hệ quy chiếu để cảm nhận về tri thức như trên có những hạn chế rất cơ bản.

Thứ nhất là từ cách đặt vấn đề. Để xác định một định nghĩa cho Tri thức, các học giả thuộc trường phái này đã xem xét một tiến trình trong đó có sự biểu hiện của Tri thức ra thành một hình thức cụ thể có thể cảm nhận được : đó là sự vật đóng vai trò Chỉ dẫn. Như vậy vai trò Chỉ dẫn chỉ là một khía cạnh cụ thể được biểu hiện ra của Tri thức trong một loại tiến trình cụ thể. Nhưng ở đây, các học giả của trường phái này hoàn toàn không thể biện luận một cách chặt chẽ được rằng ngoài việc thể hiện ra dưới vai trò Chỉ dẫn, ai dám chắc là Tri thức không thể hiện ra thành vai trò khác, dưới những khía cạnh cụ thể khác, trong các loại tiến trình khác. Họ cũng không thể chứng minh được rằng ngoài Tri thức ra, có vật thể nào khác cũng có khả năng đóng vai trò Chỉ dẫn hay không. Việc quy nạp hóa từ việc dẫn ra một hoặc vài tiến trình trong vô số các tiến trình và loại tiến trình khác nhau trong vũ trụ, để rồi kết luận là Tri thức là một cái gì đó đóng vai trò Chỉ dẫn chính là sai lầm được gọi là Quy nạp hóa vội vã, đã được các triết gia cổ Hy lạp chỉ ra từ 5000 năm trước công nguyên. Điều này tương tự với việc để tìm ra định nghĩa cho loài động vật bốn chân, chúng ta xem xét một thể hiện cụ thể của loài động vật bốn chân là con bò, sau khi xem xét độ hai chục con bò thì đi tới kết luận là tất cả động vật bốn chân đều có sừng.

Thứ hai, việc xem xét vai trò của Tri thức trong một tiến trình, từ đó chỉ ra định nghĩa tri thức là hoàn toàn không thỏa đáng. Chúng ta không thể dựa vào một vai trò của một vật trong một tiến trình để định nghĩa về danh tính của nó. Ví dụ, nếu chúng ta định nghĩa con bò dựa vào vai trò của nó, như sau :"Bò là một loại động vật bốn chân, có vai trò đi cày, kéo xe, cho sữa, làm thịt". Từ định nghĩa này suy ra những con động vật bốn chân không có các khả năng kể trên thì không phải là con bò. Điều này sai, vì có những con bò ngu dốt và bệnh hoạn đến mức không thể đi cày, kéo xe cũng như cho sữa, lại mắc bệnh điên nên không thể làm thịt. Nhưng chẳng vì thế mà nó không phải là con bò. Hoặc các bộ lạc du mục người Mông cổ nuôi ngựa cũng có dùng để đi cày, kéo xe, cho sữa và làm thịt, nhưng không thể căn cứ vào vai trò đó để nói rằng con ngựa là con bò.

Thứ ba, chỉ xét riêng việc xem xét về cái gọi là sự Chỉ dẫn trong một tiến trình bao gồm

[chỉ dẫn; sự thực hiện; kết quả được quy định trong chỉ dẫn]

có nghĩa là các học giả của trường phái này đã tách rời cái biểu hiện thành Chỉ dẫn của Tri thức ra khỏi môi trường tự nhiên của nó, nhét nó vào trong một cái lồng bao gồm ba thành phần để quan sát. Điều này tương tự như việc để nghiên cứu về vận tốc của loài bò, người ta đem nhốt con bò vào một cái chuồng hẹp, không cho cựa quậy, rồi đi tới kết luận là con bò không biết chạy.

Qua những luận điểm đã trình bày, chúng ta thấy rằng lý thuyết này không thể áp dụng để nghiên cứu Tri thức không chỉ trong phạm vi tổng thể với ý nghĩa Triết học đầy đủ của nó, mà còn cả trong một phạm vi tương đối hẹp, với không-thời gian tuyến tính. Nói tóm lại, học thuyết này được ngoại suy một cách quá vội vã từ quan sát thực nghiệm, hoàn toàn không có giá trị học thuật, và không ứng dụng được vào một ngành khoa học tự nhiên nào.

Loại quy chiếu thứ hai xuất phát từ một phương pháp luận khác. Những học giả của lý thuyết này thừa nhận sự hạn chế của ngôn ngữ tự nhiên trong việc biểu diễn Tri thức với ý nghĩa Triết học của nó. Do đó để có thể diễn tả Tri thức bằng ngôn ngữ và biểu diễn các luận điểm về Tri thức, họ sử dụng một hệ quy chiếu dựa trên một vài tiền đề quy ước [4]. Như vậy, hệ quy chiếu này cũng không biểu diễn được Tri thức với ý nghĩa Triết học Tổng thể của nó, mà chỉ mang tính mô hình biểu diễn, để tiện cho việc kiến giải Tri thức, tương tự như tấm hải đồ đi biển không phải chính là biển.

Dựa trên tiền đề "Con người là một sinh vật có Tri thức" và "Những động vật không có khả năng tư duy trừu tượng thì không có Tri thức", những học giả của trường phái này tìm kiếm tất cả các thuộc tính (attribute) của con người, mà những động vật không có Tri thức khác không có. Sau đó, họ sẽ tìm trong thiên nhiên và vũ trụ những vật có mang những thuộc tính này, và công nhận chúng là vật thể có Tri thức. Xuất phát từ loài người, trước tiên, các nhà khoa học nhận thấy rằng một con người có Tri thức khi rơi vào một hoàn cảnh mới, hoàn toàn chưa gặp trước đó, không được ai chỉ dẫn, ra lệnh, một người có khả năng suy nghĩ luôn có khả năng tìm ra giải pháp để hoạt động và giải quyết công việc trong hoàn cảnh này [6]. Một ví dụ nôm na (có nghĩa là ví dụ này chỉ có tác dụng minh họa cho các độc giả không có chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu Tri thức) về khả năng giải quyết một trường hợp chưa được dự liệu trước, không được dạy trước, cũng không có chỉ dẫn hay lệnh trực tiếp: Vào thời chưa có các dụng cụ quan sát quang học, một anh chàng muốn nhìn thấy rõ một vật cách xa anh ta vài km. Rõ ràng là trước thời đó chưa có ai nói là phải làm thế nào để nhìn xa như thế, chả có sách vở nào viết là phải làm thế nào trong trường hợp này, và chả có ai hay có vật nào có thể chỉ dẫn cho anh ta về giải pháp. Như vậy, anh chàng này phải căn cứ vào các hiểu biết của mình về toán học, quang học, về cơ khí và nấu thủy tinh ... qua một quá trình suy nghĩ, nghĩa là qua một tiến trình vận động của Tri thức, để chế tạo ra cái ống nhòm. Hiển nhiên là anh ta có tìm cả đời trong kho kiến thức của nhân loại đã có trước đó cũng không tìm ra giải pháp. Điều này nghĩa là anh ta đã tìm ra giải pháp mới mà không cần sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài, và không có nghĩa là chỉ lưu giữ thông tin một cách đơn giản, và đem ra sử dụng khi cần thiết.

Theo các nhà khoa học, các thuộc tính cơ bản đem lại khả năng tự suy nghĩ và hành động của các vật thể có Tri thức là:

- Vật thể có Tri thức thu nhận và xử lý thông tin.
- Không thể đoán trước được hành động của vật thể có Tri thức.
- Vật thể có Tri thức thì có tính tự do ý chí (Autonomy - tính tự chủ).

Khi các hoạt động Tri thức được khảo sát ở mức chi tiết hơn, các nhà nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) [5] diễn tả các khái niệm trên chi tiết hơn như sau:

- Vật thể có Tri thức có tính tương tác (Interactive) : nghĩa là vật thể có Tri thức có thể trao đổi Thông tin với môi trường xung quanh và với các vật thể khác.
- Vật thể có Tri thức có tính phản xạ (Reactive) : nghĩa là vật thể có Tri thức căn cứ vào các Thông tin thu nhận được, để có những phản xạ với môi trường xung quanh, hoặc với các vật thể khác.
- Vật thể có Tri thức có tính hành động tích cực (Proactive) : nghĩa là các vật thể có Tri thức có thể tự mình phát sinh ra các hành động để thực hiện một công việc hay một mục đích nào đó.
- Vật thể có Tri thức có khả năng hoạt động trong môi trường thông tin không đầy đủ : nghĩa là một vật thể có Tri thức không cần phải có những mệnh lệnh hay chỉ dẫn trực tiếp một cách hoàn toàn đầy đủ, mà vẫn có thể hoàn thành những công việc hoặc mục đích nhất định trong môi trường hoạt động của nó.
- Vật thể có Tri thức có tự do ý chí (Autonomy)

Dễ thấy rằng tập hợp được bổ sung thêm của các nhà nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo chỉ là sự chi tiết hóa các thuộc tính đã được các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên khác nêu ra ở trên.

Sau khi đã có tập hợp các thuộc tính của vật thể có Tri thức, các nhà khoa học tự nhiên quan sát những vật thể khác trong tự nhiên, và đã chỉ ra được rằng Tri thức không chỉ tồn tại trong một vật thể duy nhất là con người.

Bản chất tư tưởng của học thuyết này là các học giả của những trường phái này không nghiên cứu trực tiếp Tri thức, mà chỉ nghiên cứu những vật thể có Tri thức, là các thể hiện ra thành vật chất của Tri thức. Dễ thấy là cũng như trong trường hợp của học thuyết thứ nhất, học thuyết thứ hai này cũng không mô tả được Tri thức một cách đầy đủ với ý nghĩa Triết học của nó. Do đó nó hoàn toàn không thể áp dụng được trong phạm vi tổng thể.

Vậy đối với các phạm vi không-thời gian giới hạn và các khía cạnh cụ thể thì sao? Phương pháp này chứa đựng một sự nhất quán trong bản thân nó, khi nó được đem áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên khác nhau. Ví dụ người ta không thể khảo sát trực tiếp không-thời gian vô tận, mà người ta chỉ tìm hiểu những vật chứa trong không-thời gian, và khảo sát một phần của không-thời gian bằng cách quy ước ra các hệ trục quy chiếu của nó. Trong vật lý hạt nhân, người ta cũng không thể trực tiếp quan sát các hạt và các tiến trình của nó, mà chỉ có thể quan sát các vết do các hạt đó tạo ra trên màn chắn sóng của máy gia tốc và lò phản ứng hạt nhân, và lập phương trình cho các vết đó. Tương tự, trong các hệ thống thiết kế hướng đối tượng của ngành khoa học máy tính (Computer Science), những thành phần cơ bản thực sự tham gia vào hoạt động của hệ thống không phải là các đối tượng (objects), mà là các thể hiện của các lớp đối tượng (instances of object classes).

Để minh họa cho một vật thể có Tri thức, các nhà vật lý thiên văn dẫn ra hiện tượng lỗ đen (Black hole) trong vũ trụ. Đây là hiện tượng suy sụp hấp dẫn (Gravitational Collapse) của một thiên thể. Trong quá trình phát triển của một thiên thể, sẽ có giai đoạn trong đó nó bị co rút lại vì lực hút lẫn nhau của các hạt cấu tạo nên nó. Khi khoảng cách giữa các hạt nhỏ dần thì sức hút giữa chúng tăng nhanh, quá trình sụp đổ càng gia tốc, và khi thiên thể có tỉ trọng vào khoảng gấp đôi tỉ trọng của mặt trời, thì tiến trình sụp đổ hấp dẫn tạo thành lỗ đen diễn ra. Về mặt lý thuyết, thiên thể sẽ co rút không ngừng về mặt kích thước, và tăng lên không ngừng về mặt tỉ trọng, do đó lỗ đen cuối cùng sẽ co rút thành một điểm có tỉ trọng vô cùng lớn [7]. Trên thực tế, theo thuyết tương đối của Einstein, các vật có trọng lượng uốn cong không-thời gian xung quanh nó, trọng lượng của vật thể càng lớn, thì độ cong của không-thời gian quanh nó càng cao. Do vậy, không-thời gian không có tính đồng nhất tại mọi điểm trong vũ trụ. Vì tính cong của không-thời gian quanh lỗ đen cực cao, và không ngừng tăng lên theo quá trình suy sụp hấp dẫn, nên đứng từ một không-thời gian khác có độ cong kém hơn, nghĩa là từ bất kỳ một điểm nào bên ngoài lỗ đen, ta sẽ thấy khoảng thời gian để lỗ đen hoàn tất việc suy sụp hấp dẫn là vô tận. Chính những đặc điểm nêu trên đã mang lại cho lỗ đen những thuộc tính của một vật thể có Tri thức. Thứ nhất, lỗ đen có lực hấp dẫn vô cùng lớn, mọi vật bị hút vào đó đều bị giữ lại, đến mức ánh sáng cũng không thoát ra khỏi lỗ đen, có nghĩa là nó thu nhận thông tin, và tất cả những gì rơi vào vòng ảnh hưởng của nó, toàn bộ ánh sáng, vật chất, không-thời gian ... đều bị biến đổi, có nghĩa là nó xử lý thông tin. Bởi vì quá trình suy sụp của nó là Vô hạn, do đó sẽ không ai biết được là Sau Đó nó sẽ làm gì, nghĩa là không thể đoán trước được hành động của nó. Do không thể đoán trước được hành động của nó, và khi cái Sau Đó (tại thời điểm kết thúc của thời gian Vô hạn) xảy tới, về mặt lý thuyết nó có thể giở bất kỳ trò gì nó muốn, nên nó có tính tự do ý chí.

Các nhà vật lý hạt nhân cũng có ứng cử viên của mình. Có một giai đoạn, người ta quan niệm rằng tất cả các chất được tạo nên từ các nguyên tử, các nguyên tử này được tạo ra từ ba hạt cơ bản không thể phân chia được là electron có điện tích âm, proton có điện tích dương và neutron không mang điện tích. Nhưng sau đó, các nhà vật lý hạt nhân nhận ra rằng do các hạt này có những tính chất khác nhau, nên chúng phải có những cấu tạo khác nhau, và họ tiếp tục tìm ra những hạt "cơ bản" cấu thành những hạt nói trên. Kết quả là họ tìm ra khoảng 300 hạt "cơ bản" khác nhau, và chúng hoàn toàn không phải là hạt cơ bản không thể phân chia được, vì chúng vẫn mang những tính chất điện từ và sóng khác nhau. Ngành nghiên cứu các hạt này và các tiến trình của nó là ngành vật lý hạ nguyên tử (subatomic physics). Có thời các nhà vật lý thuộc ngành này đã giả định là thế giới vật chất đều tạo ra từ một loại hạt cơ bản nhất không thể phân chia được, gọi là hạt quark, nhưng sau đó, do tính chất spin sóng khác nhau của các hạt quark, các nhà vật lý đành phải thừa nhận là các hạt tạo bởi ba loại quark và ba loại antiquark (đối hạt của hạt quark trong thế giới phản vật chất), kết hợp với các tính chất về màu (Colour - Đây không phải là màu theo nghĩa đen) và tính chầt về vị (Flavour - Đây không phải là vị theo nghĩa đen), và như vậy là có 12 loại hạt quark và 12 loại antiquark, cuối cùng thì vẫn không phải là các hạt cơ bản. Nhưng ở đây, chúng ta không bàn về mô hình vật lý nguyên tử, mà chỉ bàn về hạt quark như một vật thể có thể coi là có Tri thức. Thứ nhất, hạt quark tương tác (interactive) với các hạt quark khác, và các loại hạt khác trong môi trường của nó. Thứ hai, hạt quark phản ứng (reactive) với các hạt khác trong môi trường của nó. Thứ ba, hạt quark tự nó có những hoạt động để thay đổi tính chất sóng hoặc biến đổi tính chất hạt (proactive). Tiến trình phản ứng, diễn biến và kết quả các phản ứng và hoạt động của các hạt trong thế giới hạ nguyên tử là không xác định, và không đồng nhất, dù xác định bằng thực nghiệm hay các phương trình phản ứng. Do đó, thứ tư, hạt quark có khả năng hoạt động trong một môi trường mà bản thân nó không bao giờ có thể thu thập được đủ về các khả năng có thể xảy ra, nghĩa là không đầy đủ về mặt thông tin. Thứ năm, tiến trình và các kết quả của hành động của hạt quark là không xác định, nghĩa là nó có tính không phụ thuộc toàn bộ vào các quy định của các điều kiện bên ngoài, không đoán trước được hành động của nó, nghĩa là nó có tự do ý chí (autonomy). Vậy hạt quark có thể coi là có Tri thức. Nhận định này cũng có thể áp dụng cho các meson, hadron, sigma... và các hạt hạ nguyên tử khác.

Có một vài người nhận định rằng những hình mẫu về lỗ đen và hạt quark chỉ là ngụy biện, vì không có tiến trình tinh thần nào diễn ra trong đó. Nhưng không có học thuyết nào ràng buộc là Tri thức phải gắn với hoạt động tinh thần, vốn là điều chỉ tồn tại ở sinh vật sống. Thứ hai, khái niệm về vật chất và tinh thần là một khái niệm hình thành từ triết học cổ Hy lạp, về sau được cụ thể hóa bởi Decartes, nhưng đã bị vật lý hiện đại và Triết học Đông phương phủ định, vì nguồn gốc của vũ trụ là một Thể thống nhất, do đó vật chất hay tinh thần chỉ là các thể hiện ra thành dạng cụ thể (và các dạng cụ thể này bị hạn chế bởi quy ước ) của một loại duy nhất. Hữu sinh và vô sinh cũng chỉ là quy ước của con người về mặt ngôn ngữ. Do đó, không thể khẳng định rằng Tri thức không tồn tại trong các vật thể và các tiến trình vô cơ (rút cục thì vô cơ hay hữu cơ cũng là quy ước của con người, và tất nhiên là nó không tuyệt đối đúng, nghĩa là xét trong các hệ khái niệm của các thế giới khác, trong các thiên hà khác, với quy ước của các vật thể có tri thức khác, thì cách phân chia hữu cơ hay vô cơ sẽ không còn đúng nữa). Hơn nữa, do tính chất không đồng nhất của không-thời gian, vật chất (theo nghĩa tương đối) của môi trường này có thể lại là tinh thần (theo nghĩa tương đối) của môi trường khác, và trong một môi trường nào đó, chắc chắn sẽ tồn tại các vật thể cấu tạo từ những cái mà con người coi là tinh thần. Vì vậy, theo học thuyết đã nêu, các lỗ đen và các hạt hạ nguyên tử hoàn toàn có thể coi như các vật thể có Tri thức.

Điều đáng kinh ngạc là các nhà sinh vật học, trong phạm vi quan sát của mình, không đưa ra được một loại sinh vật nào có đầy đủ các thuộc tính của vật thể có Tri thức, trừ con người. Nhưng điều này không có nghĩa là ngoài con người ra, không còn sinh vật có tri thức nào khác. Có khoảng 50 tỉ ngôi sao trong thiên hà chúng ta đang sống. Chòm sao ngoài thiên hà gần với chúng ta nhất là chòm sao Alpha thuộc thiên hà Nhân mã, cách trái đất hơn 4 năm ánh sáng, và cho đến nay chúng ta vẫn chưa biết gì về chòm sao này cả, chưa kể đến các chòm sao khác trong thiên hà. Ngoài ra, có vô số thiên hà trong toàn thể vũ trụ vô tận. Vì vậy chúng ta chả có lý do gì để tuyên bố trái đất là nơi duy nhất có sự sống, và cũng không có lý do gì để tuyên bố rằng sinh vật có Tri thức duy nhất là con người.

Ngay từ khi giáo sư John Mc. Carthy đặt những nền móng đầu tiên cho ngành Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), những nhà khoa học về Trí tuệ nhân tạo đã xác định mục tiêu của ngành là nghiên cứu về các đặc điểm của Trí tuệ, tìm cách biểu diễn Tri thức và mô phỏng lại Tri thức bằng những công cụ của con người. Máy tính, với chức năng là lưu trữ và xử lý thông tin, đã hiển nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu của ngành Trí tuệ nhân tạo, để sử dụng như một công cụ mô phỏng lại Trí tuệ. Tuy nhiên, kể từ thời chiếc máy tính lớn (mainframe computer) đầu tiên ra đời cho đến kỷ nguyên của máy tính hiện nay (micro computer)[8], máy tính vẫn hoạt động theo mẫu máy Turing, nghĩa là về mặt nguyên tắc, nó chỉ làm những gì mà người ta ra lệnh cho nó, và trong những trường hợp mà lập trình viên không dự tính được trước, máy tính thường chỉ có khả năng báo lỗi, còn nếu không báo lỗi thì sẽ hoạt động lung tung hoặc treo máy. Vậy mà mục tiêu của ngành Trí tuệ nhân tạo là mô phỏng Trí tuệ, nghĩa là phải làm sao đó để máy tính có khả năng tư duy. Khi nó rơi vào trường hợp mà lập trình viên không dự tính trước, nó phải có khả năng tìm ra giải pháp để giải quyết tình huống. Trước đây, việc sử dụng máy tính với các bit 0 và 1 đồng nghĩa với việc sử dụng đại số boolean với các toán tử logic AND, OR, XOR, NOT, nghĩa là các phép tính logic mệnh đề chỉ xác định khi các toán hạng đã xác định, nghĩa là các điều kiện đã được biết. Vì vậy, ở bước khởi đầu của mình, các nhà nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo đã bị ám ảnh bởi định kiến là đối với máy tính, họ chỉ có thể làm việc với các điều kiện có thể dự định trước. Định kiến này đã dẫn họ đi tới kết luận là đã vậy, thì phải tìm cách mô tả thật nhiều điều kiện, càng nhiều càng tốt, như vậy thì máy tính sẽ có khả năng phản ứng với rất nhiều trường hợp xảy ra trong thực tế. Khi dữ liệu được lưu trữ trong hệ thống đủ nhiều đến một mức nào đó, thì máy tính gần như giả lập được là nó có Trí tuệ, vì nó sẽ xử lý được đa số các trường hợp xảy ra trong thực tế, còn những trường hợp mà nó không xử lý được sẽ có xác suất xảy ra quá nhỏ, đến mức là gần như không bao giờ xảy ra. Các Hệ chuyên gia chạy trên máy tính vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20 là một thể hiện điển hình của quan điểm này, tuy nhiên trong thực tế, dữ liệu nạp vào các Hệ chuyên gia chưa bao giờ đủ lớn để máy tính đạt tới mức độ đã nêu trên. Do tính hạn chế về tốc độ tính toán và khả năng lưu trữ của các máy tính, nên khi số lượng dữ liệu nạp vào khá lớn, thì nó không đáp ứng được về nhu cầu về xử lý thời gian thực (real-time processing). Ví dụ, nếu nạp một dữ liệu về y tế, phòng chữa bệnh vào một Hệ chuyên gia y tế chạy trên máy tính đến mức đủ nhiều để giả lập một bác sĩ, thì khi đưa một yêu cầu chẩn bệnh vào, nó sẽ chạy mất vài năm, và lúc đó thì người bệnh đã về nơi chín suối. Tiếp tục đi trên vết xe đổ này, các chuyên gia về Trí tuệ nhân tạo của thời kỳ đó cho rằng nếu có một máy tính đủ mạnh, thì có thể nạp và xử lý cực nhiều dữ liệu mà vẫn không bị hạn chế bởi yêu cầu xử lý thời gian thực. Chính từ quan điểm này, mà ý tưởng về mạng neural (neural network) và máy tính quang tử (photon computer) ra đời, nghĩa là đây là những hình mẫu viễn tưởng cho những siêu máy tính cực mạnh, có thể lưu trữ và xử lý một lượng khổng lồ thông tin, để có thể đưa ra giải pháp trong một phạm vi thời gian hợp lý cho bất kỳ một trường hợp nào có xác suất xảy ra khá lớn. Tuy nhiên, giải pháp này có những sai lầm căn bản, cả về tính tư tưởng lẫn tính khả thi. Xét về tính khả thi, số lượng thông tin cụ thể để nạp vào máy tính làm cho nó có thể giả lập được Trí tuệ (bằng cách xét từng trường hợp điều kiện) trong một lĩnh vực nhất định sẽ là cực lớn, đến mức toàn thể loài người dành toàn bộ cuộc đời mình ngồi gõ máy tính cũng chưa chắc đã nhập hết được những thông tin cần thiết vào máy tính để tạo ra một hệ chuyên gia có thể hoạt động độc lập được mà không cần chỉ dẫn của con người. Xét về mặt tư tưởng, số các trường hợp có thể xảy ra trong thực tế là vô tận, còn số các thông tin nhập vào máy tính và số trường hợp được các lập trình viên dự tính trước dù là lớn bao nhiêu đi nữa cũng vẫn là hữu hạn, do đó xác suất của việc một trường hợp bất kỳ nào đó xảy ra bao giờ cũng là rất lớn, nên sẽ không bao giờ có trường hợp nào mà máy tính không giải quyết được lại có xác suất xảy ra nhỏ. Tóm lại, giải pháp nhập thật nhiều thông tin vào máy tính và dự liệu trước thật nhiều trường hợp để giả lập trí tuệ là một giải pháp bế tắc. Ngay cả sự ra đời của logic mờ (fuzzy logic) để bổ sung cho những thiếu sót của boolean logic trong giải pháp này cũng không đem lại những giải quyết căn bản. Đến đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, một số nhà nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo và Khoa học về máy tính như Shoham, Rao A.S., Georgeff M., Cohen P.R. và Levesque,H.J... chỉ ra rằng khả năng tìm ra giải pháp trong những trường hợp chưa được dạy trước, chưa gặp trước và chưa dự liệu trước của con người (hay của các vật thể có trí tuệ) không phụ thuộc chặt chẽ vào lượng thông tin con người biết nhiều hay ít, mà phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của con người, tức là phụ thuộc vào các tiến trình của hoạt động tri thức, và phụ thuộc vào cách con người biểu diễn các thông tin đã biết như thế nào. Từ đó, một lĩnh vực hẹp trong ngành Trí tuệ nhân tạo ra đời : đó là lĩnh vực Biểu diễn Tri thức (Knowledge Presentation). Các nhà khoa học nghiên cứu việc biểu diễn Tri thức tìm cách mô hình hóa thông tin, các mối liên hệ giữa các thông tin, các tiến trình xử lý thông tin và các quan hệ giữa thông tin và các tiến trình xử lý thông tin. Một loạt các ngành logic mới ra đời để phục vụ cho việc toán học hóa các mô hình Tri thức như first-order logic, omni logic (logic không gian), temporal logic (logic thời gian) ...[9]. Các lý thuyết về omni logic và temporal logic đã được phát triển, để tạo nên một ngành khoa học mới, đứng ngay trên ranh giới của ngành Trí tuệ nhân tạo và ngành Khoa học về máy tính : Đó là ngành Agent học. (Agent trong ngành khoa học này không có từ tương đương trong tiếng Việt). Agent được mô tả như một thực thể trên máy tính và các thiết bị điện tử thỏa mãn các điều kiện sau:

- Agent có tính tương tác (Interactive) : Agent có thể tương tác với các Agent khác và với môi trường mà nó hoạt động trong đó (nghĩa là môi trường máy điện tử, không nhất thiết chỉ có computer, mà còn có thể là thiết bị điện tử có gắn micro processor, robot...)
- Agent có tính phản xạ (Reactive): Agent có thể phản ứng lại tác động của các Agent khác và phản ứng lại với các thay đổi của môi trường.
- Agent có tính hành động tích cực (Proactive) : Agent có thể tự mình phát sinh ra các hành động để thực hiện một công việc hay một mục đích nào đó.
- Agent có khả năng hoạt động trong môi trường thông tin không đầy đủ : Môi trường của Agent ở đây là máy điện tử, như vậy Agent có thể hoạt động trong môi trường này khi có các trường hợp mà lập trình viên chưa dự liệu trước xảy ra, hoặc khi xảy ra các trường hợp có các thông tin ở bên ngoài được bộ cảm biến (sensor) của máy nhận biết được, và loại điều kiện này Agent chưa được lập trình để xử lý. Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến nay, khả năng này của Agent mới chỉ được xác định qua mô hình toán học, còn việc cài đặt cụ thể trong máy tính chỉ có trong một vài lĩnh vực nhất định.
- Agent có tự do ý chí (Autonomy): Bởi vì Agent có khả năng giải quyết những trường hợp xác định nào đó, mà các lập trình viên chưa dự tính tới, tức là nó không chỉ làm những gì mà lập trình viên ra lệnh cho nó, mà nó còn có những hành động (action) và kế hoạch (plan) của riêng nó, vì vậy Agent có tự do ý chí [10].

Như vậy, ta có thể thấy Agent là một vật thể có Tri thức. Việc giải thích cụ thể cách cài đặt Agent về mặt toán học và về kỹ thuật máy tính đòi hỏi phải viết nhiều tập sách về triết học, toán học, trí tuệ nhân tạo, máy tính... và hoàn toàn ra khỏi phạm vi bài viết này. Sự ra đời của Agent đã mở ra một kỷ nguyên mới về lập trình trên máy tính. Thế giới đã chuyển từ kỷ nguyên lập trình hướng đối tượng (OOP - Object Oriented Programming) sang kỷ nguyên lập trình hướng Agent (AOP - Agent Oriented Programming). Tuy khả năng tự tư duy của Agent còn hết sức hạn chế, nhưng các ứng dụng của các Multi-Agent System và Mobil Agent trong các ngành khoa học không còn là viễn tưởng. Các ứng dụng của Agent hết sức đa dạng, ví dụ như các softbot tìm kiếm thông minh trên Internet, hệ thống điều khiển không lưu tự động của sân bay Sydney, Australia (hệ thống điều khiển không lưu tự động duy nhất trên thế giới cho đến nay), các hệ thống trợ giúp thông minh trong thương mại điện tử (e-Commerce), hệ thống đào tạo phi công của Không lực Hoàng gia Anh quốc, Hệ thống mạng tích hợp Multimedia thông minh của IBM, hệ thống tàu điện không người lái của Siemens, hệ thống sản xuất động cơ xe Mercedes-Benz trong nhà máy sản xuất xe Mercedes-Benz lớn nhất thế giới của tập đoàn DaimlerChrysler tại Sindelfingen, Đức[11]...

Tuy nhiên, dù có thành công thế nào đi nữa, học thuyết biểu diễn Tri thức thứ hai này cũng không diễn tả được Tri thức một cách hoàn chỉnh. Nó chỉ là hình chiếu của Tri thức, qua đó người ta có thể cảm nhận được Tri thức, chứ nó không phải là bản thân Tri thức, như lời của đức Phật đã bảo "Hãy nhìn theo ngón tay ta chỉ, con sẽ thấy mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng".

Tất cả các mô hình Tri thức, dù thành công hay thất bại cũng chỉ là ngón tay chứ không phải mặt trăng.

Vai trò của Tri thức đối với đời sống con người

Qua các luận điểm đã nêu, chúng ta nhận thấy rằng Tri thức là một khái niệm rộng lớn không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thông thường, hoạt động trong một môi trường cũng không diễn tả được bằng ngôn ngữ thông thường, do đó việc nghiên cứu và phân tích tác dụng tổng thể của Tri thức đối với vũ trụ là không thể làm được, ít ra là không thể làm được với phương tiện phát biểu là ngôn ngữ. Do đó, việc phân tích các tác dụng của Tri thức trong phần tiếp theo đây sẽ được áp dụng cho một phạm vi ứng dụng hẹp, cụ thể hơn. Chúng ta là con người, vì thế, chúng ta sẽ xem xét tác dụng của Tri thức đối với thế giới loài người. Các học giả khi xem xét về tác dụng của Tri thức đối với cuộc sống loài người, thường khảo sát hai vấn đề chính: "Tri thức có vai trò gì trong việc hình thành loài người?" và "Tri thức có vai trò gì trong việc tồn tại và phát triển của loài người?".

Để thống nhất về mặt diễn đạt ý, ở đây chúng ta nhận định rằng những khái niệm về mặt vô cơ-hữu cơ, vô sinh (không có sự sống)-hữu sinh (có sự sống) chỉ là những quy ước phân chia tổng thể do con người đặt ra. Điều này có nghĩa là trong những thế giới vật chất khác, hoặc đối với các vật thể có Tri thức khác, họ hoàn toàn có cách nhìn nhận và phân chia sự vật khác với cách phân chia của thế giới loài người.

Như trên đã dẫn, Tri thức xuất hiện cả trong những vật thể vô sinh cả ở tầm mức vĩ mô như lỗ đen lẫn ở tầm mức vi mô như các hạt hạ nguyên tử. Do đó, ta sẽ không có luận điểm căn bản nào để chỉ ra rằng Tri thức xuất hiện từ khi bắt đầu có sự sống. Hơn nữa, khái niệm cái gì là có sự sống chỉ là khái niệm quy ước của con người.

Để xét xem Tri thức có vai trò gì trong việc tạo ra loài người, đồng thời có vai trò gì trong quá trình phát triển của loài người, chúng ta phải khảo sát các học thuyết về việc loài người được tạo ra như thế nào. Từ khi ngành sinh vật học ra đời, đã có rất nhiều lý thuyết khác nhau về việc hình thành và phát triển của các sinh vật sống. Cho đến nay, có hai học thuyết chính chưa bị chứng minh là sai hoàn toàn : Đó là Thuyết Tiến hóa và Thuyết về các biến thể.

Thuyết Tiến hóa chỉ giới hạn trong việc quan sát và nghiên cứu các sinh vật trong phạm vi Trái đất. Thuyết Tiến hóa không nêu ra và chứng minh được quá trình hình thành các sinh vật từ các vật thể vô sinh, ngoài các giả thuyết mơ hồ và vô căn cứ về việc ngẫu nhiên các chất vô cơ kết hợp trong môi trường nước tạo thành các chất hữu cơ có chứa đựng sự sống, tức là tạo ra mầm mống của các vật thể hữu sinh. Nhưng đây chỉ là một giả thuyết hoàn toàn không xuất phát từ một tiền đề hoặc luận điểm nào cả, vì vậy chúng ta không có cơ sở để khẳng định (đồng thời cũng không có cơ sở để bác bỏ) về việc Tri thức có vai trò gì trong việc tạo ra sự sống hay không. Tiếp theo đó, xuất phát từ các sinh vật ở mức thấp nhất là động vật đơn bào và thủy tức, Thuyết Tiến hóa chỉ ra rằng do có sự đột biến cấu trúc của chuỗi ADN trong gen của các loài sinh vật [12], chúng sẽ tiến hóa thành những sinh vật có bậc tiến hóa cao hơn, ví dụ từ lớp cá tiến hóa thành lớp bò sát, từ lớp bò sát tiến hóa thành lớp chim..., và trong lớp động vật có vú, có một loài vượn đặc biệt tiến hóa thành loài vượn người, rồi thành người vượn, và cuối cùng thì thành loài người. Đây là một quá trình liên tục, diễn ra không ngừng. Trong thế giới sinh vật trên Trái đất, cho đến nay tất cả các nhà khoa học đều thừa nhận loài người là loài duy nhất có Tri thức. Điều này có nghĩa là trong thế giới sinh vật trên Trái đất, trước khi hình thành loài người thì không có sinh vật có Tri thức, loài vượn mà từ đó hình thành nên vượn người cũng không có Tri thức, vì vậy trong phạm vi Thuyết Tiến hóa, chúng ta không thể khẳng định (cũng không thể hoàn toàn bác bỏ) là Tri thức có vai trò gì trong việc tạo ra loài người hay không. Vậy vai trò của Tri thức trong quá trình phát triển của loài người thì sao ? Thuyết Tiến hóa khẳng định là có những bậc thang liên tục trong quá trình Tiến hóa của các sinh vật, như vậy, chúng ta phải thừa nhận rằng sẽ có những sinh vật có bậc Tiến hóa cao hơn loài người. Liệu Tri thức có vai trò gì trong việc đưa con người tiến hóa từ bậc người lên bậc cao hơn hay không ? Xét về khía cạnh cục bộ trong phạm vi các sinh vật trên Trái đất và loài người, hiển nhiên là từ khi xuất hiện loài người thời thượng cổ đến nay, chúng ta đã có nhiều phát triển đáng kể về triết học, khoa học, công cụ sản xuất, văn hóa, nghệ thuật ..., nghĩa là xét trên những phạm vi hẹp, cục bộ, xã hội loài người có sự phát triển về Tri thức. Tuy nhiên, kể từ khi hình thành loài người vượn đến nay, loài người không có sự phát triển về chất. Tại sao lại có nhận định này? Đặc trưng để phân biệt loài người với các loài sinh vật khác là Sử dụng công cụ lao động và Khả năng tư duy tinh thần. Quá trình thay đổi về chất diễn ra khi loài vượn người chuyển hóa thành người vượn, được đánh dấu bằng sự kiện con người vượn biết sử dụng cành cây, gỗ, đá làm công cụ lao động, và các hình thức hoạt động tinh thần phát sinh như ngôn ngữ, hội họa (dưới hình thức thô sơ như các hình vẽ trên vách hang động), điêu khắc (các hình tượng bằng đất nung hay bằng đá), âm nhạc (các âm điệu ê a buồn tẻ và các nhạc khí gõ, thổi)..., thương mại cũng xuất hiện dưới hình thức trao đổi hàng hóa. Suốt từ thời kỳ hình thành loài người vượn đến nay, loài người đã trải qua nhiều thời kỳ của các công cụ sản xuất như thời kỳ đồ đá, đồ kim loại, kỷ nguyên cơ khí và máy hơi nước, kỷ nguyên điện khí hóa, thời kỳ điện tử và tự động hóa, kỷ nguyên vi điện tử và ngày nay là kỷ nguyên công nghệ thông tin, nhưng tất cả vẫn không thoát ra khỏi cái gọi là Sử dụng công cụ lao động. Kể từ thời nguyên thủy đến nay, hoạt động văn hóa nghệ thuật của loài người đã có nhiều bước tiến lớn, ví dụ như việc hình thành và phát triển của các trường phái hội họa, điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, việc ra đời của văn học, thơ ca, việc hình thành các hình thức kịch nghệ, điện ảnh... Thương mại cũng phát triển từ hình thức tao đổi hàng hóa sang mua bán tiền-hàng, giao dịch chứng khoán và thương mại điện tử (e-Commerce). Nhưng tất cả vẫn không thoát ra khỏi cái gọi là Tư duy tinh thần.

Hơn nữa, theo Thuyết Tiến hóa, những vật thể ở bậc tiến hóa thấp không thể nhận thức được sự ưu đẳng của những vật thể ở bậc tiến hóa cao hơn nó. Ví dụ, một mảnh đất (vô sinh) không thể nhận biết về sự tồn tại của những ngọn cỏ (thực vật) mọc trên nó; một ngọn cỏ không thể nhận biết được sự tồn tại của con bò (động vật) đang ăn nó; một con bò không thể nhận biết được về trí tuệ của con người đang chăn nó. Bởi vậy, chúng ta, những con người, không thể nhận ra được sự tồn tại ưu đẳng của các sinh vật có bậc tiến hóa cao hơn loài người.

Bởi vì chúng ta chỉ quan sát được (sự quan sát này mang tính chất chủ quan của loài người) rằng Tri thức có vai trò giúp đỡ trong quá trình phát triển Khả năng Sử dụng công cụ lao động và Tư duy tinh thần, chứ không gây ra sự biến đổi về chất, cũng như chúng ta không nhận thức được rằng khi tiến hóa lên bậc cao hơn con người, sinh vật sẽ có những ưu đẳng gì, do đó chúng ta không có cơ sở để khẳng định (cũng không có cơ sở để hoàn toàn bác bỏ) là Tri thức có đóng vai trò gì trong quá trình tiến hóa từ loài người lên một loài sinh vật cao hơn hay không.

Sở dĩ chúng ta đi tới các kết luận nửa dơi nửa chuột như vậy, bởi vì trong phần lý luận trên, chúng ta căn cứ vào một học thuyết có phạm vi giới hạn hết sức hẹp, chỉ trong giới sinh vật có trên Trái đất, và có các lỗ hổng đáng kể trong lý thuyết. Thứ nhất, thuyết Tiến hóa không nêu ra được quá trình phát triển từ các vật thể vô sinh thành các vật thể hữu sinh một cách thỏa đáng. Thứ hai, chỉ căn cứ trên các thực nghiệm của ngành sinh học phân tử, Thuyết Tiến hóa chỉ ra rằng các cấu trúc chuỗi ADN như thế trong gen sẽ tạo ra các sinh vật như thế, tuy nhiên Thuyết này lại không giải thích được cái gì (hay điều gì) cho phép gen quy định được cấu trúc và dạng thể của sinh vật, cũng không có một giả thuyết nào khả dĩ chấp nhận được về quá trình đột biết gen để tạo ra sự tiến hóa từ một lớp sinh vật này sang một lớp sinh vật khác trong tự nhiên, ngoài một vài ước đoán không dựa trên bất kỳ một luận điểm lý thuyết nào, và không được xác minh bằng thực nghiệm về tác động của ngoại cảnh. Thứ ba, trong một trường hợp hẹp và cụ thể, các nhà sinh vật học theo thuyết Tiến hóa không chỉ ra được rằng cái gì đã gây ra sự đột biến tinh thần, và làm cho một loài vượn trong số rất nhiều các loài vượn tiến hóa hành loài người ? (Nên nhớ rằng giả sử ta thừa nhận Thuyết Tiến hoá và các bậc thang Tiến hóa của nó là đúng, thì trên tất cả các bậc thang tiến hóa trước con người không hề có một sự thay đổi về phương diện tinh thần nào trong các sinh vật). Cuối cùng, nếu chúng ta thừa nhận là ADN quyết định cấu trúc của sinh vật, vậy cái gì quyết định cấu trúc của ADN [13]? Cứ tiếp tục quá trình đệ quy này, các nhà sinh vật phân tử sẽ rơi vào cái bẫy y như các nhà vật lý hạt nhân đi tìm các hạt "cơ bản", cứ tìm ra các hạt nhỏ hơn, thì hóa ra nó lại được tạo ra bởi các hạt nhỏ hơn nữa [14].

Thuyết về các biến thể cũng dựa một phần trên các kết quả thực nghiệm của ngành sinh học phân tử. Các kết quả thực nghiệm của sinh học phân tử chỉ ra rằng cấu trúc chuỗi ADN của bất kỳ sinh vật nào, từ sinh vật đơn giản nhất là động vật đơn bào đến sinh vật phức tạp nhất (ít nhất là theo quan niệm của loài người) là con người, cũng đều có độ phức tạp giống hệt nhau. Căn cứ trên kết quả thực nghiệm này, những nhà sinh vật học theo thuyết biến thể cho rằng sự khác nhau giữa các lớp sinh vật khác nhau, chẳng qua là do sự thay đổi về thứ tự và cấu tạo cụ thể trong chuỗi ADN, tức là sự biến thể về ADN tạo ra sự biến thể của sinh vật, chứ không có sinh vật nào phức tạp hơn sinh vật nào [15]. (Nên nhớ rằng khái niệm loài người phức tạp hơn loài bò là do chính con người đặt ra, chứ chưa chắc con bò đã nghĩ như thế :-) )

Theo lý thuyết này, chúng ta có thể thấy rằng Tri thức chả đóng vai trò gì trong việc tạo ra loài người cả, vì khi một biến thể ADN tạo ra dạng sinh vật là con người, thì lúc đó con người mới có Tri thức. Như vậy, xét trong phạm vi giới sinh vật trên Trái đất, Tri thức được nhận thức bởi đầu óc con người, chứ Tri thức không tham gia gì vào quá trình tạo ra con người cả [16]. Và theo Thuyết Biến thể, quá trình Tiến hóa không tồn tại, nên Tri thức cũng không đóng vai trò gì trong quá trình phát triển của loài người.

Thuyết Biến thể này cũng có các hạn chế cơ bản như Thuyết Tiến hóa. Đó là nó không giải thích được tại sao gen lại quy định được cấu trúc và dạng thể của sinh vật và nó cũng không giải thích được cái gì quyết định cấu trúc của ADN.

Vậy rút cục Tri thức có ý nghĩa gì trong sự tồn tại của loài người hay không ?

Kể từ thời hình thành người vượn đến nay, Tri thức của con người luôn luôn phát triển (đã dẫn ở trên), làm cho con người có năng suất lao động ngày càng cao (các máy công cụ), có các phương tiện tạo ra khả năng chạy ngày càng nhanh hơn (ví dụ như ô tô), bay ngày càng cao hơn (ví dụ máy bay), bơi ngày càng xa hơn (tàu thủy), lặn ngày càng sâu hơn (tàu ngầm), nhìn càng xa hơn (các loại kính, ống nhòm, kính viễn vọng, kính thiên văn...), tàn phá ngày càng khủng khiếp hơn (vũ khí hạt nhân), thưởng thức cuộc sống ngày càng tao nhã, tinh tế hơn (văn hóa, nghệ thuật)..., nhưng đó chỉ là những công cụ làm tăng khả năng cạnh tranh sinh tồn của con người trong thế giới mà loài người đang tồn tại, đồng thời những công cụ này cũng tăng khả năng của con người đối với việc khai thác cạn kiện thế giới và hủy hoại môi trường sinh thái xung quanh mình. Điều này nghĩa là nếu con người không nhanh chóng có những nhìn nhận đúng đắn, nghiêm túc về những hậu quả của những hoạt động của mình, và có những giải pháp phát triển thích đáng, thì cùng với đà phát triển ngày càng nhanh của Tri thức, loài người sẽ thúc đẩy ngày càng nhanh tiến trình cưa cái cành cây mà chính mình đang ngồi ở trên đó.

Lời kết

Kết thúc bài viết này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm nghịch lý về sự không biểu diễn được bằng ngôn ngữ của Nguồn gốc và sự phát triển của vũ trụ và của Tri thức. Khi mà chúng ta nói rằng vũ trụ bắt nguồn từ một thể thống nhất..., điều đó đã hàm ý bên ngoài cái một có những cái nhiều, bên ngoài cái thống nhất có cái không thống nhất...điều đó chứng tỏ là cái Thể đó không còn là cái duy nhất, thống nhất, là nguồn gốccủa vạn vật nữa. Điều này chứng tỏ rằng Cái vật là nguồn gốc của vũ trụ, cũng như các tiến trình của nó chỉ có thể diễn tả bằng cách nói ý, chứ không thể diễn đạt trực tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên. Tri thức (hiểu theo nghĩa Triết học) là sự biểu diễn cho một khái niệm không thể kiến giải được bằng ngôn ngữ thông thường, nên bản thân Tri thức cũng không thể kiến giải được bằng ngôn ngữ thông thường.

Tuy nhiên, cho đến nay phương tiện trao đổi tư tưởng chính của con người vẫn là ngôn ngữ, nên khi luận bàn về Tri thức, các học giả vẫn phải sử dụng ngôn ngữ. Có điều, khi nghiên cứu các vấn đề thuộc về Vũ trụ và Tri thức, các học giả phải dựa trên ý nghĩa trừu tượng của ngôn ngữ, và cảm nhận bằng trực giác, chứ không thể suy tầm theo nghĩa đen của mặt chữ. Cổ nhân đã nói:"Có lời là để tỏ ý. Được ý hãy quên lời."

Vũ trụ và Tri thức là những khái niệm không diễn tả được bằng ngôn ngữ, nếu nói ra bằng ngôn ngữ, chỉ là mô tả cái bóng của nó, chứ không phải bản thân nó. Vì vậy có câu : "Người biết không nói. Người nói không biết." (Tri giả bất ngôn. Ngôn giả bất tri. - Lão Tử).

 

Chú thích

[1] Một số học giả cho rằng Tri thức có vai trò Triết học và Khoa học, nhưng thực ra Triết học là khoa học của mọi khoa học, bao trùm lên toàn bộ các khoa học, nên nhận định Tri thức có vai trò Triết học là đủ.

[2] Mục đích của bài viết là nêu lên các khía cạnh khác nhau trong việc cảm nhận và luận giải Tri thức, chứ không nhằm mục đích chứng minh về sự tương đồng về triết học cũng như khoa học tự nhiên giữa các trường phái triết học Đông phương với khoa học hiện đại. Do đó, bạn đọc quan tâm đến vấn đề này nên tìm đọc nguyên tác của các tác giả đã được đề cập tới trong bài viết.

[3] Nhiều học giả nghiên cứu triết học phương Đông ngộ nhận rằng đồ hình Thái cực và Bát quái xuất phát từ thuyết Vô vi của Lão Tử, và được thể hiện trong kinh Dịch của Khổng Tử (?- hiện nay một vài nhà nghiên cứu triết học phương Đông cổ đại đặt vất đề nghi ngờ rằng kinh Dịch không phải do Khổng Tử viết, vì nó hoàn toàn xa lạ với các tư tưởng, quan điểm và đối tượng nghiên cứu của ông trong các tác phẩm khác như Luận Ngữ, kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Xuân Thu...), nhưng thực ra đồ hình này đã xuất hiện trong thuyết Vô song nguyên lý của Phục Hy từ thời kỳ hoang sơ mông muội của lịch sử Trung quốc, trước thời Lão tử và Khổng tử rất lâu.

[4] Tiền đề trong Triết học cũng như trong các ngành khoa học tự nhiên là những mệnh đề mặc nhiên được coi là đúng, không cần phải chứng minh, được dùng làm xuất phát điểm để xây dựng nên những mệnh đề và các học thuyết. Với ý nghĩa tổng thể, tính đúng của các tiền đề chỉ là tương đối, và đã không ít lần trong lịch sử phát triển của Triết học và các ngành khoa học tự nhiên, các tiền đề trước đây được coi là đúng đã bị phủ nhận là sai, do các quan sát, thực nghiệm, hoặc do sự thay đổi hệ thống quy chiếu ...

[5] Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là ngành khoa học nghiên cứu về Trí thông minh, các thuộc tính của nó và các khả năng mô phỏng lại Trí thông minh bằng các công cụ của con người. Máy tính (computer) được dùng như một công cụ để mô phỏng Trí tuệ, nghĩa là ngành khoa học về máy tính (Computer Science) đóng vai trò cung cấp phương tiện cho ngành AI, chứ AI không phải là một bộ phận của ngành khoa học về máy tính, và AI không chỉ ứng dụng có mỗi máy tính trong quá trình nghiên cứu của mình. Căn cứ vào những thành tựu của ngành sinh học phân tử và của điện tử học hiện nay, chúng ta không loại trừ khả năng ngành AI sẽ cho ra đời những bộ máy điện tử và người máy được điều khiển bởi những bộ não người hay các cơ chế tương tự như não người được tạo ra bởi sinh sản vô tính, xuất phát từ các ADN. Chúng ta cũng không loại trừ khả năng tạo ra những Người nhân tạo, bởi sinh sản vô tính. Tất cả những vật thể như vậy là vật thể nhân tạo có trí tuệ, nên hoàn toàn là thuộc trong phạm vi nghiên cứu của ngành Trí tuệ nhân tạo.

[6] Điều này không hoàn toàn đúng với tất cả loài người, vì có những thằng ngu đến mức không có khả năng tự suy nghĩ và tìm ra giải pháp cho bất kỳ một hoàn cảnh nào, nếu không được dạy trước, không gặp hoàn cảnh đó trước, hoặc không có ai bảo cho là phải làm gì.

[7] Có một số kẻ viết rằng vũ trụ được tạo ra từ vụ nổ của một điểm vô cùng nhỏ có tỉ trọng vô cùng lớn, nhưng thực ra nguồn gốc của vũ trụ (được miêu tả cả bằng triết học lẫn bằng các ngành khoa học tự nhiên) là một Thể Thống nhất, mà trong thể này không có độ lớn-nhỏ về không gian, không có sự lâu-mau về thời gian, cũng chả có sự tách biệt giữa không gian-thời gian và các chiều của nó, không có sự nặng-nhẹ về trọng lượng, cũng không có các khái niệm nhị nguyên trên-dưới, nóng-lạnh. nhanh chậm... Những kẻ đó vì dốt nát về mặt ngôn ngữ và khoa học tự nhiên, nên đã cóp nhặt một cách vụng về và chế biến sai lầm tư tưởng của các nhà khoa học khác.

[8] Việc dịch computer là máy vi tính là sai lầm về mặt khoa học, vì có ba loại máy tính (computer) chính là mainframe computer, mini computer và micro computer. Ngay cả việc dịch micro computer là máy vi tính, cũng là sai lầm về mặt ngôn ngữ, vì trong cấu trúc từ Hán-Việt, từ "vi" đứng trước một danh từ chỉ vật, có nghĩa là vật đó cực nhỏ. Ví dụ "vi phim" (micro film) là loại phim cực nhỏ, "vi trùng" là loại trùng cực nhỏ. Như vậy "máy vi tính" sẽ là máy làm những phép tính cực nhỏ. Định nghĩa này tất nhiên là sai, vì micro computer có khả năng làm hàng trăm triệu phép tính một giây, và có khả năng tính toán trên các số có hàng trăm chữ số (1 tỉ chỉ có 9 chữ số 0). Nếu muốn chính xác, micro computer phải dịch là vi máy tính, nghĩa là máy tính cực nhỏ (ít nhất thì các PC ngày nay cũng là cực nhỏ nếu đem so với các mainframe computer to như cả toà nhà.)

[9] Đây không phải là một chuyên khảo về toán học và biểu diễn Tri thức, nên bạn đọc quan tâm đến vấn đề này có thể đọc công trình của các tác giả đã được nêu. Hiện nay first-order logic đã bị loại bỏ do tính hạn chế của nó trong việc biểu diễn một vài tiến trình hoạt động của Tri thức, mà minh chứng rất cụ thể là bài toán (Zeus, Jupite và Kronos)

[10] Như vậy, ngày nay, tuy còn khá hạn chế, máy tính đã bước đầu biết hoạt động để đạt tới những mục tiêu định sẵn, chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào những lệnh cụ thể và giải thuật nhất định của các lập trình viên.

[11] Tập đoàn DaimlerChrysler đã chi hơn 200 triệu USD cho một nhóm chuyên gia bao gồm các tiến sĩ toán học, các tiến sĩ và kỹ sư chế tạo máy, các chuyên gia lập trình tại Đức nghiên cứu đề tài này. Riêng nhóm nghiên cứu phát triển công nghệ Agent, đặc tả và thiết kế hình mẫu nhà máy công tác tại System and Technology Research của DaimlerChrysler tại Berlin gồm có 8 người (7 người Đức và 1 người nước ngoài), bao gồm các chuyên gia toán học, chuyên gia chế tạo máy, viễn thông, điện tử, tự động hoá và lập trình viên. Tác giả của bài viết này là một lập trình viên trong nhóm, có nhiệm vụ xây dựng hệ thống giả lập (simulation) nhà máy trên máy tính và lập trình các hệ thống Multi-Agent cho một số trạm làm việc và băng chuyền.

[12] Những nhà sinh vật học theo Thuyết Tiến hóa tìm cách giải thích học thuyết của mình dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc ADN của ngành sinh học phân tử, chứ việc nghiên cứu cấu trúc ADN của gen và giải mã các chuỗi ADN không phải là một bộ phận của ngành sinh vật học phát sinh từ Thuyết Tiến hóa.

[13] Có một số kẻ cho rằng cứ giải mã được toàn bộ các chuỗi ADN, thì chúng ta sẽ tạo ra được các sinh vật có bậc tiến hóa cao hơn con người. Điều này là sai lầm, bởi vì giả sử chúng ta thừa nhận thuyết Tiến hóa, thì con người không thể nhận biết ra sự ưu đẳng của sinh vật bậc cao hơn loài người là gì, mà đã không thể biết thì làm sao chúng ta tạo ra nó được. Đó là chưa kể là sau khi xuất hiện một vài thành tựu mới của ngành sinh học phân tử, chúng ta chưa hề chứng minh được rằng Thuyết Tiến hóa là hoàn toàn đúng, nó chỉ chưa bị chứng minh là hoàn toàn sai thôi.Khi giải mã được toàn bộ các chuỗi gen, giỏi lắm thì loài người cũng chỉ tạo ra được các cá thể khác nhau của loài người, dù có sức mạnh, khả năng hoạt động và tư duy siêu việt tới đâu, thì cũng chỉ nằm trong giới hạn Sử dụng công cụ lao động và Tư duy tinh thần, hoặc giả có ba đầu sáu tay thì cũng chỉ là những quái thai của loài người mà thôi. Loài người cũng sẽ không bao giờ tạo ra một loại máy móc hay một loại sinh vật nào, mà lại cho phép chúng có khả năng thống trị con người, dù cho loại máy móc hay sinh vật đó có sức mạnh cơ học và tư duy tinh thần phi thường đến đâu đi nữa. Khi chế tạo ra các máy móc hay sinh vật, những người thiết kế bao giờ cũng sẽ thiết kế một "back door", hay nói theo người Hy lạp cổ, một "gót chân Achin", nghĩa là một switch trong phần cứng, hay một code bí mật trong phần mềm, để khi cần thì con người có thể dùng nó để chiếm quyền kiểm soát hoàn toàn vật thể nhân tạo này, làm ngừng hoạt động hay thậm chí hủy hoại chúng.

[14] Thực ra khái niệm hạt trong vật lý hạ nguyên tử chỉ mang ý nghĩa ngôn ngữ, vì khi phân tích các thực thể này, chúng vừa mang tính chất hạt, vừa mang tính chất sóng. Khi nói một hạt nào đó được cấu tạo bởi những hạt nhỏ hơn, nhỏ ở đây không mang ý nghĩa về mặt kích thước, mà mang ý nghĩa về mặt tính chất hạt-sóng, do đó hiện nay các nhà vật lý hạt nhân thừa nhận rằng quá trình chia nhỏ theo kiểu này sẽ là vô cùng. Cho tới nay, các nhà vật lý hạt nhân đang cố gắng đưa ra mô hình mới để thoát khỏi bế tắc này. Người tiên phong trong lĩnh vực này hiện nay trên thế giới là nhà khoa học người Anh Stephen Hawkins.

[15] Theo Thuyết Biến thể, loài vượn người, người vượn và loài người chỉ là một, và các thay đổi về mặt sinh vật giữa các hình thức vượn người, người vượn và người chỉ là biến thể trong phạm vi một loài.

[16] Gen không phải là Tri thức, vì nó không có các thuộc tính của một vật thể có Tri thức, như đã nêu trong phần trên của bài viết.

Nói ngoài lề một chút : Có một số kẻ viết rằng khi loài người phát triển đến một mức độ nào đó, và phát hiện ra rằng thiên hà mà họ đang sống trong đó sắp bị hủy diệt, loài người sẽ lên các con tàu vũ trụ chạy trốn đến các thiên hà khác, nhờ đó Tri thức được bảo toàn. Có điều, hệ thiên hà mà Trái đất chúng ta đang sống trong đó chỉ là một trong Vô Số thiên hà trong vũ trụ, và trong Vô Số thiên hà đó chắc chắn có Vô Số hành tinh có sự sống, và trong số các hành tinh có sự sống đó, chắc chắn có khối tỷ sinh vật có Tri thức. Ngoài ra, như trong bài đã dẫn, sự sống hay không sự sống chả liên quan gì tới sự tồn tại của Tri thức cả. Vì thế, giả sử toàn bộ Thiên hà của chúng ta nổ tung, chả có con tàu vũ trụ nào bay thoát, thì Tri thức vẫn tồn tại như thường.


Monday, May 23, 2022

Why Agile doesn’t work

Details
Written by Chau Hong Linh
Category: Computer Science

Why Agile doesn't work

 

Under Agile, there are many specific methodologies: popular: Scrum, Kanban, XP, not so poplar: DSDM, FDD, ASD, Lean, Crystal.

 Agile Development Process supposes to achieve the following goals:

 Higher productivity
Better-quality products
Reduced time to market
Improved stakeholder satisfaction
 Better team dynamics
 Happier employees
 

Not quite so in the reality.

 This is not an academic paper on Agile and its sub methodologies. This article will evolve by time, when I remember more things, perceive more things and have different ideas about things I wrote.

 I will write only about things that cause Agile to fail, not the whole Agile methodology, team, events, artifacts and all.

 As Scrum is the most popular in the industry by 2018, and others are not much different, with the exception of XP, I will discuss a broad view of Agile, and use specific illustration with Scrum to explain my opinion why Agile doesn't work.

 

I.   Agile in general, why practices don't work?

1.    Design by Committee

In Agile, the role of an Architect is reduced from the almighty God of Software Design to a Proposal Writer. After the architect draw diagrams, make broad high levels of components, workflows and interactions between different parts of a system, the whole team or senior people on the team will have meetings to discuss about the design, suggest comments, concerns, improvements ...

Theory: This process will make the design better by having more people looking at the architecture, chipping in best solutions, practices.

Reality: A bunch of juniors who never know real fundamental computer science ask a few senior people to teach them about basic things very similar to why 2 + 2 = 4, but not 1, not 2, not 3, not 5, not 6, not 7 … all the way to not millions.

Real goal of idiots: Avoid responsibility. Managers and senior people nowadays, including the architects, are often very bad at technologies and engineering. So they want to have a bunch of people to hide behind, if something goes wrong with the design. Nobody wants to take individual responsibility.

Result: Endless stupid meetings  that look like Computer Science 101. Endless stupid non-tech arguments such as "It is not popular in our company", "I have never seen anybody use it", but not technical merits of the solutions.

At the end of the day, it will be a meh meh design that every idiot can understand but nearly useless in implementation.

2.     Story writing

In Scrum, stories supposed to replace huge ream of papers with useless diagrams and thousand pages of documentation.

Theory: They should be written in a way that there is enough information for architects and programmers to work on, and enough for QAs, stakeholders to verify and accept the features.

Reality: All the stories are written too shallow, not enough information for anybody to do anything.

Real goal of idiots: Avoid hiring real architects to cut cost. Use a bunch of people who don't know what they are talking about to write useless text.


Result: A bunch of useless stories that need much more clarifications. Endless meeting to discuss about stories and there is no real place to record real architecture design as the big picture for whole system.

3.     Pair programming

Pair programming is two programmers sit at the same computer, work on the same task.

Theory: Two programmers have more ideas, more brains, more eyes than one. They can work better together to produce a product with faster speed and better quality.

Reality: Actually there are both good and bad things in pair programming.

Good: Bring up new person up to speed very fast. I experience this first hand many times. When there is a new person join the team, the best way to bring him up to speed is pairing him with an experienced engineer on the team.

Also, when a person must learn a new technology fast, efficiently, pair him with a person that is very good at that technology. It will reduce a lot of studying, struggling time.

Bad: A lot of companies use pair programming to avoid responsibility. Two guys making an error is easier to blame something else, instead of admitting human being stupidity.

Abuse billable hours: A lot of consulting firms, notoriously ThoughtWorks, advocate Pair Programming as a way to improve productivity and quality. But actually they put two consultants to work on a task that can easily be done by one.

Real goal of idiots:

Avoid responsibility.

Double the costs of staffing. Have a bunch of idiots wasting time of people pairing with them on the job, so those idiots can get experience to write into their resumes (not really learn).

Slave driving: Stupid management people think that two people working at the same computer would prevent them to play games or bullshitting on social media as in the case they work alone.


Result:

Good: Bring people up to speed with the team or with new technologies.

Bad:

Wasting time of good engineers on idiots.

Wasting money to pay double for people the projects don't need. Productivity and Quality go down, because good people are busy pairing with idiots.

Sometimes two guys play games or posting bullshit together, so the project loses two guys instead of one J.

4.     XP (eXtreme Programming)

eXtreme Programming (XP) is a sub methodology of Agile. It is not just one single practice as the things above.

It is worth mentioning here, because it is fundamentally different than other Agile's sub methodologies.

XP advocates that project teams  just need to have a minimum, just enough ideas about business requirements and the software they will build, then just write it. No need for lengthy documents, endless meetings, nothing. Requirements - Code – Test – Deliver.

Easy to see it is hard to work with complex requirements. And XP requires a team of all good engineers who know what they are doing, good QAs, good stakeholders.

In 2018, that kind of teams exists only in dream and theory.

Last time I have seen such a team was in 2002.

 

II. Agile: Applied in Scrum

1.     Scrum team structure

-       Project Manager: Not really required in Scrum, but always there.

-       Product Owner: Key stakeholder

-       Scrum Master: Scrum has a formal definition for this. To me, it is a function that can be performed by any reasonable sane people in the team.

-       Development team: Go read about formal definition somewhere else.

Problem: Not really, the structure is reasonable. It only has problems when you have an idiot as Project Manager or Product Owner or Scrum Master, or when you have a bunch of idiots as development team.

In many cases, if the Scrum Master is an idiot, he hurts the project the most, because he talks too much, calls for meetings that nobody needs, insists on stupid ceremonies …

But it is not really Scrum or Agile trouble in and of itself.

Idiots practice all methodologies J

2.     Scrum artifacts

-       Product Backlog

-       Sprint Backlog

-       Increment

In this section, I will do analysis on all of the artifacts together.

Theory: Go read about them in Agile documents.

Reality: Despite epic stories or whatever, the wholesome picture is missing right there.

       The whole system has something like bottom-up documents, with stories create epics, epics create the whole software.

       But in majority of Scrum projects, there are a lot of tiny but important parts lost somewhere in between epics, and the wholesome picture looks like an incomplete product.

Real goal of idiots:

Idiots don't have vision. They don't have architectural capability. So they prefer to piece small pieces together to create something, instead of creating a real useful product.


Result:

Every sprint achieves something. At the end, if the project is well executed, even all the stories are finished and accepted.

But … there is no useful product. Just a giant complex system consists of stories stitched together.  That system can only perform half-ass functionality.

Or worse, a project can go on forever, stories completed, then new stories created.

Functionalities created but can't really be used.

 

3.     Scrum events

In this section, I will do analysis separately on each event. Some of them are not actually bad, unless performed by idiots. But they are not Scrum's problems. In that case, I will just list the name and omit the analysis.

 

a)    The Sprint

A sprint is a time-boxed period during which specific work is completed and made ready for review. Sprints are usually 2-4 weeks long but can be as short as one week.

Theory: Break long-time projects into manageable durations, each duration shows some accomplishments. Easier to do the planning, and have better vision of progress.

Reality: Many project teams choose 2-week or 3-week sprints.

Real goal of idiots:

Don't have to see too big a picture.

Don't have to see too far.

Have something to show every sprint, to brag with upper managements.

Result:

Short sight vision. With 2-week or 3-week sprints, people don't want and don't dare to make big things happen.

Teams are afraid to take risks, to avoid losing sprint velocity, avoid creating more backlogs.

As a result, it is incredibly hard to create good products with good technologies.

Just a piece of meh meh software that at the end of the day, nobody is happy with it, least of all the users.

 

b)    Sprint Planning

Sprint Planning team meetings are time-boxed events that determine which product backlog items will be delivered and how the work will be achieved.

Theory: Sprint Planning prepares the team better to work on the coming sprint. It provides the team with a clear list of stories to execute, with estimate workloads.

Reality: Sprint planning usually consists of stories picking (choosing what stories to execute in the sprint) and stories estimation (Give story some points based on complexity).

Stories estimation: Each story is given a point number from Fibonacci numbers. The numbers are based on complexities of stories.

Some team (very few) choose points based on time to complete, rather than complexity.

Real goal of idiots:

Have some things to whip the team with, as driving slaves.

It is easier look at small pieces and blame who do what in the case something wrong happens.

Result:

Sprint is a terrible concept, especially anything between 1-week to 3-week sprints, so the planning doesn't really help.

Wasted time in stories estimations. Given a complexity point, what does it tell people about the story? A difficult story may takes time?
However, easy story with a lot of mundane tasks that every idiot can do might also take time too, because there are too many easy things to do.

Estimation based on time, contrary to Agile theory and popular belief, maybe a little more useful, because it helps people to divide their workloads and work hours a little bit better. But not much better.

 

c)     The Daily Stand-up

The Daily Stand-up is a short communication meeting (no more than 15 minutes) in which each team member quickly and transparently covers progress since the last stand-up, planned work before the next meeting, and any impediments that may be blocking his or her progress.

Theory: The Daily Stand-up helps project leaders to know the progress of the team. Team members know each other's progresses, and can help each other to overcome the blockers.

Reality: Most of software engineers don't want to wake up early in the morning. So most teams have standups after 10:00 AM their times. Few have earlier standups, for example around 9:00 – 9:30 AM.

Many teams that have people across time zones in the U.S. have meetings about 12:00 PM EST, which is 9:00 AM PST.

Many teams that have people around the world have even more bizarre times, or have multiple standups per day depends on time zones of the members.

Many startups go over 30 minutes or more, depends on teams.

Daily standups cut the work day into two parts: Before standup and After standup.

 

Real goal of idiots:

Micro management. Dumb managements don't know tech, cannot comprehend technical and technological progresses, so they rely on daily reports.

Result:

As mentioned in Reality, standups cut the work day into two parts: Before standup and After standup.

If the one of the parts is early in the day, the developers still have a big chunk of the day to work. However, it must be early in the morning, and nothing good happens when a developer must wake up too early. The whole day's productivity will be affected.

If the time division happens somewhere at middle of the day or a little later, most of the people will only work half a day. One of the parts (Before standup or After standup) will be churning time, bullshit time or reading time.

It is basic psychology. Developers wake up late in the morning, standup time is coming, why work? We can always work after standup.
Or standup is done, we finish our reports for the day. Why work? Let work tomorrow morning.

An 8-hour work day turns into a 4-hour work day, or even worse.

Daily standup also distracts people from long term thinking, just work on mundane things to have something to report at standup.

It also creates bullshit mentality. As long as a developer has something to report as standup, he doesn't really care about real work. I have seen people who report bullshit for months without the project managers, scrum masters or any management people know anything about it. And if it is not my project, I don't even care. Just watch the bullshit for fun.

d)    The Sprint Review

e)    The Retrospective

 

III.          Conclusions

Agile methodology and its sub methodologies were born to address the short coming of previous methodology: Waterfalls.

However, Agile fails to address the most important component of a software project: Human being.

Arguably, certain parts of Agile tries to overcome the short coming of the teams. However, if the teams consist of certain amount of idiots, especially project managers and scrum masters, the results are terrible.

And in order to be idiot-proof, Agile creates idiotic things, most notable of all are Sprint and Daily standup.

All the methodologies so far try to fix wrong things. They don't fix people. Especially they don't fix stupid people.
It is similar to the case a manufacturer produces an unsafe car. Instead of fixing the safety issues to make  the car safer, they attach more seat belts and airbags into the car.

If people have no required skills: train them. If they are too stupid and don't want to learn: fire them and look for better people. Instead of doing that, companies and organizations try to create idiot-proof methodologies. But they don't know that the world will keep making better idiots J

Investing more in education instead of investing in methodologies will fix the problem.

Thursday, April 14, 2022

Câu hỏi: Bộ phim nào dựa trên một câu chuyện có thật thậm chí còn đen tối hơn cả chính bộ phim đó?

Câu hỏi: Bộ phim nào dựa trên một câu chuyện có thật thậm chí còn đen tối hơn cả chính bộ phim đó?
Trả lời: Sean Kernan, một nhà văn tầm trung.
Nguồn: https://qr.ae/pvsy3n
___________________
  Đầu tiên, để bạn đọc dễ dàng phân biệt, mình xin phép giới thiệu cho các bạn về những nhân vật được đề cập trong bài viết dưới đây:
  Cô bé 11 tuổi Sally Horner (Sally) và tên Frank La Salle (Frank) chính là 2 nhân vật có thật trong một câu chuyện đầy ám ảnh xảy ra vào năm 1948.
  Dựa trên câu chuyện có thật đó, tác giả Vladimir Nabokov đã phác hoạ 2 nhân vật là cô bé Dolores Haze (Lolita) 12 tuổi và người đàn ông tên Humbert trong tác phẩm Lolita của mình.
____________________
  Trong một cuộc thăm dò ý kiến của 125 tác giả nổi tiếng, Lolita của Vladimir Nabokov đã được xếp hạng là cuốn sách hay nhất của thế kỉ 20.
  Đó là một kỳ tích đáng kinh ngạc khi xem xét mức độ đen tối của câu chuyện này: Cốt chuyện xoay quanh nỗi ám ảnh của một người đàn ông với một cô bé 12 tuổi, Dolores Haze (hay còn gọi là Lolita), người mà ông ta đã có một mối quan hệ tình dục (ấu dâm). Ông ta đi khắp đất nước cùng với cô bé và họ sống cùng nhau trong suốt nhiều năm.
  Câu chuyện này đã là nguồn cảm hứng tạo nên hai bộ phim, cả hai tuy đều được đánh giá cao nhưng cũng gây nên không ít những tranh cãi.
  Câu chuyện được kể qua cái nhìn của thủ phạm, Humbert. Trong phê bình văn học, ông ta được gọi là "người dẫn chuyện không đáng tin cậy", có nghĩa là bạn nhìn thế giới thông qua con mắt chủ quan của một người hay một quan điểm đầy tính thiên vị.
  Ví dụ, Humbert mô tả Lolita chính là kẻ cám dỗ, là người tán tỉnh và yêu cầu hắn ta quan hệ tình dục với mình. Thế nhưng vài tháng trước đó, hắn đã giữ một cuốn nhật ký riêng tư, kể chi tiết việc hắn ta khao khát sự đụng chạm thể xác của cô bé như thế nào. Hắn thậm chí còn kết hôn với chính mẹ của Lolita chỉ để tiếp cận cô bé.
  Điều đáng chú ý về Lolita đó là sự dung tục đáng kinh ngạc và lối văn đầy gợi cảm được tuôn ra từ một nhân vật hoàn toàn không có chút thiện cảm nào.
  Tôi khinh thường Humbert. Tuy nhiên, tôi không thể ngừng đọc.
NGUỒN GỐC MÉO MÓ CỦA CÂU CHUYỆN NÀY
  Rất ít người nhận ra rằng có một trường hợp thực tế thậm chí còn đáng lo ngại hơn, đó chính là nguồn cảm hứng cho cuốn sách:
  Đó là câu chuyện của cô bé 11 tuổi, Sally Horner, người đã bước vào một cửa hàng tiện lợi ở Camden New Jersey vào năm 1948. Cô bé là một đứa trẻ tuyệt vời và là một người tuân theo quy tắc với những con điểm số tốt. Thế nhưng, cô bé đã dám ăn cắp một cuốn sổ tay vì một nhóm các cô gái mà cô hy vọng rằng mình sẽ được tham gia vào.
  Thật xui xẻo, một kẻ hiếp dâm bị kết án 50 năm tù, Frank La Salle, đã ở trong cửa hàng ngày hôm đó. Frank đã nắm lấy cánh tay của cô bé khi cô bé đang cố gắng bỏ chạy.
   Hắn ta nói rằng hắn chính là một thành viên của tổ chức FBI và được yêu cầu gửi cô đến trại cải tạo. Sally bắt đầu khóc và hoảng loạn. Gia đình của cô không khá giả và những rắc rối pháp lý sẽ huỷ hoại họ. Cô bé sợ rằng mình sẽ bị bỏ rơi.
   Frank đã làm dịu cô bé bằng một thoả thuận, nói rằng hắn ta sẽ không làm điều đó miễn là cô sẽ chịu làm theo những gì mà hắn yêu cầu trong tương lai.
  Vài tháng sau, Frank chặn Sally trên đường từ trường về nhà. Hắn ta bảo cô bé rằng chính phủ đã muốn hắn đưa cô bé đến thành phố Atlantic và cô sẽ được chăm sóc ngay khi ở đó.
  Frank đã nhờ Sally nói với mẹ cô bé rằng cô đang đi du lịch đến thành phố Atlantic với bạn bè. Khi đến đón, hắn bắt cô bé phải nói dối với mẹ mình rằng hắn chính là cha của bạn cô.
   Đêm hôm đó, Frank đã ép bé gái 11 tuổi quan hệ tình dục với mình. Và chẳng mấy chốc, họ đã sống cùng nhau và du lịch khắp đất nước. Tiếp đó, hắn ta thậm chí còn đăng ký cho cô bé vào học một trường tiểu học ở Texas trước khi họ chuyển đến California. Ở nơi công cộng, cô bé đã đóng giả làm con gái của hắn ta nhưng khi ở nơi riêng tư chỉ có hai người, Sally lại quay về trở thành bạn tình của hắn.
   Những người hàng xóm đã không hề mảy may bất cứ điều gì đáng ngờ về mối quan hệ giữa tên đàn ông kia và cô bé (Frank và Sally). Frank nói với họ rằng vợ của hắn đã qua đời trong một vụ tai nạn. Nhưng một người hàng xóm là Ruth đã cảm thấy kỳ lạ và có điều gì đó không ổn về hai người.  
   Nhiều lần, Ruth đã cố gắng để Sally mở lòng nhưng không thể moi được bất cứ điều gì từ cô bé. Cuối cùng, Sally đã nói với cô rằng cô bé đã bị bắt cóc khỏi gia đình. Trong cơn hoảng loạn, Ruth đã gọi cho FBI, hét vào điện thoại về những gì mà cô đã phát hiện ra.
   Frank đã bị bắt và bị kết án 35 năm tù. Sau hai năm kể từ khi cô bé bị bắt cóc, Sally được đưa về với mẹ của mình và được đăng ký để đi học trở lại.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ CUỐN SÁCH TÌM THẤY SỰ KẾT NỐI CỦA NÓ?
  Khi câu chuyện này nổ ra và toàn những tin tức đưa tin.
  Tình cờ, Vladimir Nabokov đang phải vật lộn để hoàn thành một cuốn tiểu thuyết đầy tham vọng về một mối quan hệ không phù hợp giữa một người đàn ông trung niên với một cô gái trẻ. Ông đã đọc mọi bài báo về trường hợp của Sally và nó đã trở thành xương sống của cuốn tiểu thuyết Lolita mà ông viết.
  Cả hai câu chuyện của Lolita và Sally Horner đều bắt đầu trong cùng một năm. Cả Horner và Lolita đều sống với những bà mẹ đơn thân. Trường hợp của Sally Horner thậm chí còn được đề cập trong phiên bản sách của Lolita nhưng không một ai nhận thấy mối liên hệ này.
  Trong chương 33, Humbert bắt đầu đặt câu hỏi về chính hành vi của mình và nói: "Có lẽ tôi đã làm gì với Dolly, những gì mà Frank Lasalle, một thợ cơ khí 50 tuổi, đã làm với cô bé Sally Horner 11 tuổi vào năm 1948?"
  Frank giả vờ như vợ của hắn đã chết trong một vụ tai nạn. Và vợ của Humbert thực sự đã chết trong một vụ tai nạn (mặc dù Humbert có thể liên quan đến vụ tai nạn ấy - cô ấy đã gặp tai nạn ngay sau khi phát hiện ra cuốn nhật ký của Humbert về Lolita và cãi nhau với hắn ta về nó.)
  Cả hai đều đi du lịch khắp đất nước với "nô lệ" của họ, những người giả vờ là con gái của họ. Cả hai người đàn ông đã vì chính mối quan hệ kia mà huỷ hoại đi cuộc sống của mình và rồi cả hai đều chết trong tù (Humbert đã bị bỏ tù vì giết chết người đàn ông đã đánh cắp Lolita từ tay hắn ta).
  Nakobov thậm chí còn có một ghi chú cũ từ kho lưu trữ của mình: "nô lệ xuyên quốc gia", "người trung niên vi phạm đạo đức", "bị thẩm phán tuyên án gọi là 'kẻ đạo đức cùi".
SỰ THẬT ĐÁNG BUỒN TRONG CÂU CHUYỆN CỦA SALLY
  Một điều vô cùng bi thảm: Nabokov đã lưu ý Sally là nạn nhân xấu hổ như thế nào, vì phụ nữ và các bé gái thường là nạn nhân trong các vụ hãm hiếp. Một số đài phát thanh đã xoay quanh câu chuyện lố bịch này "Chà, nếu cô bé không ăn cắp cuốn sổ tay thì bla bla bla".
  Tôi nghi ngờ Nabokov đã ngoại suy (suy diễn trên giả thuyết) sự ám chỉ đó vào Lolita. Cô bé được miêu tả là một nhân vật lẳng lơ và có tính cách nổi loạn, đây dường như là điều đã quyến rũ Humbert và dẫn dắt hắn ta, thách thức hắn đưa cô ra khỏi sự kiểm soát của mẹ mình.
  Tuy nhiên, đây là điều mà nhiều nhà phê bình nghĩ rằng cuốn sách này là sáng giá: sự thật đang bị bóp méo. Liệu cô bé có thực sự cầu xin lấy sự thân mật không? Hay một lần nữa  đây chính là tâm lý hiếp dâm của tên thủ phạm? Liệu Humbert có đang phóng chiếu hình ảnh của cô bé thông qua sự đồi truỵ của chính mình?
  Hắn ta biện minh cho sự ham muốn của mình với các cô gái trẻ rằng đó là vì một trải nghiệm ban đầu của mình. Nó là một tình yêu đích thực của hắn, một đứa trẻ 13 tuổi, đã chết vì sốt phát ban, để lại hắn ta gắn bó với các cô gái vị thành niên, những người mà hắn gọi là "nữ thần".
  Hai năm sau, Lolita viết thư về cho Humbert, nhưng chỉ vì cô đang mang thai và cần tiền. Humbert cầu xin cô ở lại với hắn ta nhưng cô đã lặng lẽ từ chối. Hắn đưa tiền cho cô và rồi cô ấy lại rời đi – chỉ để chết sau khi sinh con.
  Trong khi đó, Sally Horner lại là nạn nhân nhiều lần. Đầu tiên là bởi kẻ đã bắt cóc cô, và sau đó là cả xã hội. Và giống như Lolita, cô bé chết trẻ trong một vụ tai nạn xe hơi ở tuổi 15.
  Lolita của Nabokov đã tiếp tục truyền thống lâu đời của nền văn học đó là đưa độc giả đến những nơi tối tăm và buộc họ phải suy nghĩ về các chủ đề phức tạp.
  Cuốn sách chắc chắn không dành cho tất cả mọi người. Nhưng khi bạn đọc kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng Lolita chưa bao giờ yêu Humbert giống như cái cách mà hắn ta nói. Nếu không, cô sẽ không khóc sau khi quan hệ tình dục cùng với hắn hoặc buộc tội hắn ta sau này.
  Theo nhiều cách, Lolita là một bài học về việc nhận ra hành vi lạm dụng và ấu dâm. Những kẻ phạm tội thường được che đậy bởi một lớp vỏ bọc hoàn hảo. Những kẻ ấu dâm không chỉ tạo ra những câu chuyện phức tạp để bảo vệ bản thân, họ còn làm điều đó để biện minh cho hành vi của mình.
  Đáng buồn thay, không giống như Lolita, trường hợp của Sally Horner là phi hư cấu và quá phổ biến.
  Các cô gái trẻ bị bắt cóc và trở thành nạn nhân của những người đàn ông lớn tuổi, chuyện này xảy ra liên tục. Mọi người không bao giờ bận tâm về việc đặt những câu hỏi đúng và hợp lý. Những cô gái được trốn thoát thì thường lại chẳng có ai tin họ. Và nhiều người được tin tưởng thì vẫn bị đổ lỗi.
  Có lẽ thật tốt khi một Nabokov đã lấy cảm hứng từ thực tế. Sự thật vốn mang một sức mạnh biên tập cơ bản, sự thật được đưa vào câu chuyện sẽ dùng chính sức mạnh của mình để khiến câu chuyện càng trở nên thực tế và thu hút. Và nó buộc mọi người phải suy nghĩ về những điều xấu xa mà con người ta luôn muốn che dấu (SWEEP UNDER THE RUG).

QUẢN LÝ, DOANH NHÂN NÊN ĐỌC! LÃNG PHÍ VÌ KHÔNG HIỂU CHI PHÍ CƠ HỘI

QUẢN LÝ,  DOANH NHÂN NÊN ĐỌC! LÃNG PHÍ VÌ KHÔNG HIỂU CHI PHÍ CƠ HỘI
Tôi đã viết nhiều bài về chi phí chìm (sunk cost) trong Group Phát Triển Doanh Nghiệp Việt, và cũng có bài "Đừng chết chìm vì chi phí chìm!". Bạn nào quan tâm có thể tìm đọc để đừng bị... chìm theo các loại chi phí chìm có vô vàn trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày. Bài này tôi sẽ viết về chi phí cơ hội (opportunity cost) và sẽ nhấn mạnh chi phí cơ hội của các chủ doanh nghiệp.
Chi phí cơ hội được hiểu nôm na là lợi ích bị bỏ lỡ khi chọn làm việc này mà không làm việc kia, hay chọn phương án này mà không chọn phương án khác. Ví dụ, bạn chọn nghỉ 3 ngày làm việc với mức thu nhập 1 triệu đồng/ngày để đi chơi thì chi phí cơ hội cho cuộc đi chơi đó là 3 triệu đồng, chưa kể các chi phí khác như bị mất điểm "chuyên cần", dẫn đến mất thưởng "chuyên cần" và mất cơ hội được đề bạt...
Nhiều chủ doanh nghiệp bị thiệt hại vì chi phí cơ hội mà không biết. Cùng là thời gian và công sức, lẽ ra họ dành cho những việc lớn để sinh ra lợi ích lớn thì họ lại dành cho những việc vụn vặt để tạo ra lợi ích rất nhỏ, thậm chí còn gây thiệt hại so với để cho người khác làm. Ví dụ, thay vì dành thời gian vào tìm hiểu, đánh giá, nhận định thị trường, ngành hàng, đối thủ, cơ hội, rủi ro, xu hướng mới... để tìm kiếm cơ hội làm ăn hoặc vạch ra những định hướng lớn, tạo giá trị lớn cho công ty, họ lại sa đà vào xử lý sự vụ, chỉ đạo mọi chuyện "thượng vàng hạ cám", và ký duyệt lặt vặt, cả về công việc lẫn chi phí, và tham gia quá sâu vào những việc nhỏ nhặt mà họ không có chuyên môn, không am hiểu bằng nhân viên cấp dưới. Những việc lặt vặt đó chẳng những không tạo giá trị dương đáng kể mà đôi khi, còn tạo giá trị âm vì không phải sở trường của chủ doanh nghiệp. Nếu lấy lợi ích từ những việc lớn mà lẽ ra chủ doanh nghiệp nên làm (nhưng đã không làm) trừ đi lợi ích quá nhỏ (hoặc lợi ích âm) từ những việc nhỏ mà chủ doanh nghiệp say mê làm mỗi ngày, sẽ thấy chủ doanh nghiệp thiệt hại rất lớn, và rất lãng phí! Hiện tượng này khá phổ biến ở nhiều doanh nghiệp Việt.
Ngay cả việc chọn thầy để học và kiến thức để tiếp nhận cũng vậy. Thay vì chọn đúng thầy, đúng kiến thức để tiếp thu và đem về GIÁ TRỊ DƯƠNG cho doanh nghiệp thì lại chọn nhầm thầy, tiếp thu nhầm kiến thức rồi đem về GIÁ TRỊ ÂM là những thiệt hại do chọn sai đường và đi sai cách.
* Để cho dễ hiểu, khi bạn chọn cưới vợ sớm một năm, bạn mất cơ hội được tự do thêm một năm! Chi phí cơ hội cho việc ĐƯỢC vợ sớm hơn một năm chính là một năm MẤT tự do của bạn!

Wednesday, April 13, 2022

HIỂU CHIẾN LƯỢC THEO CÁCH "HAI LÚA"

HIỂU CHIẾN LƯỢC THEO CÁCH "HAI LÚA"
(Bài từ 7 năm trước, có thể nhiều thành viên Group chưa đọc)
Bạn bị lạc trong rừng và muốn thoát ra. Nếu bạn cứ thấy chỗ nào trống thì đi, chỗ nào tiện thì bước, có khi bạn sẽ đi sâu thêm vào rừng hoặc tiến gần về phía vực thẳm.
Trước khi bắt đầu đi, bạn phải xem lại thực lực của mình (sức mình còn không, lương thực, nước uống dự trữ được bao lâu, đôi giầy đang mang có chắc chắn, con dao bên mình có chặt được cành cây, bạn bị lạc một mình hay đi cùng với ai, cơ thể mình mạnh, yếu chỗ nào, có đau chân, đau tay, trẹo lưng...).
Kế đến, bạn phải biết xung quanh bạn có gì, đâu là thuận lợi, đâu là khó khăn (núi cao, vực sâu, sông, suối, tuyết rơi, bão dữ, mưa gió hay nắng ráo, khu vực cây cối um tùm hay hay quang đãng, có hay không dấu vết thú dữ...).
Sau đó, bạn phải xác định phương hướng (Bắc, Nam, Đông, Tây...) bằng la bàn, nhìn mặt trời, các vì sao, leo lên cây cao... để quyết định sẽ đi đâu, về đâu (dựa vào thực lực, mong muốn của mình và những gì bạn biết được chung quanh).
Cuối cùng, bạn vạch con đường cụ thể (ra giấy, hoặc nếu không có giấy hay thứ gì đó để viết thì đành phải tưởng tượng), và tìm cách để đi (đi bộ, chạy bộ, bơi qua sông, trèo qua núi, cõng nhau...).
Tất cả những việc bạn làm để thoát ra khỏi cánh rừng và đến được một điểm đến nào đó theo các bước nêu trên chính là "làm" chiến lược. Chiến lược của một doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ, chí ít cũng phải đi qua các bước như vậy, không nên bỏ sót bước nào. Nếu bạn không muốn đưa doanh nghiệp của bạn đi sâu vào rừng, hãy thực hiện các bước tương tự!
Để hiểu về chiến lược cũng không khó lắm, phải không?



Tuesday, April 12, 2022

Trải nghiệm khách hàng (CX) hay trải nghiệm nhân viên (EX)?

Trải nghiệm khách hàng (CX) hay trải nghiệm nhân viên (EX)?
Trong cộng đồng trải nghiệm khách hàng, có bạn hỏi ý kiến của tôi về quan điểm cho rằng EX=CX, tức là, có phải chúng ta tạo ra trải nghiệm nhân viên tốt thì sẽ có trải nghiệm khách hàng tốt? Và chúng ta không thể có trải nghiệm khách hàng tốt nếu trải nghiệm nhân viên không tốt?
Không hoàn toàn đúng!
Đầu tiên phải khẳng định, để xây dựng một doanh nghiệp có trải nghiệm khách hàng xuất sắc, nhân viên là một yếu tố sống còn, vì họ là người truyền tải trải nghiệm.
Nhưng điểm mấu chốt là gắn kết nhân viên (Employee Engagement - EE) chứ không phải trải nghiệm nhân viên một cách chung chung. Một số nhân viên có vẻ rất vui vẻ và hài lòng, thích thú chỗ làm việc vì có đội nhóm cùng sở thích, 9 giờ đến 5 giờ về phù hợp lịch đón đưa con, ngoài giờ không cần quan tâm việc, thu nhập tốt, vui. Song họ không hiểu công ty mình đang mang sứ mệnh gì, mục tiêu và định hướng ra sao, và việc của họ liên quan như thế nào. Một nhân viên vui vẻ và hài lòng tức có trải nghiệm nhân viên tốt nhưng không rõ, không đóng góp, không hào hứng hay không cam kết vào mục tiêu chung hướng đến khách hàng, thì không thể tạo ra trải nghiệm khách hàng tốt được. Thái độ tốt dù là nguyên liệu chính của trải nghiệm khách hàng xuất sắc thì vẫn không phải tất cả. Ngoài thái độ, để tạo nên trải nghiệm hách hàng tốt cần quy trình, sản phẩm và hệ thống truyền tải trải nghiệm phù hợp với khách hàng. Còn nữa hệ thống quy trình đó lại có đồng thuận, đồng hướng, và hướng tới khách hàng không. Trong chương trình của tôi, đây gọi là hệ sinh thái CX. Gồm có con người, hệ thống, sản phẩm và quy trình đối ứng với hành trình khách hàng. Và vì vậy để có trải nghiệm khách hàng xuất sắc, gắn kết nhân sự quanh mục tiêu CX là yếu tố bắt buộc phải triển khai trong hệ sinh thái đó.
Câu hỏi tiếp theo, có bắt buộc phải có trải nghiệm nhân viên xuất sắc mới có trải nghiệm khách hàng xuất sắc không?
Amazon là trường hợp điển hình của việc tạo nên trải nghiệm khách hàng xuất sắc, nhưng trải nghiệm nhân viên khá xoàng. Steve Jobs không làm cho những người làm việc cùng ông vui vẻ và hài lòng nhưng ông là người làm cho họ gắn kết quanh một tầm nhìn chung trong việc tạo nên một sản phẩm và dịch vụ có trải nghiệm tuyệt vời.
Do đó, theo kinh nghiệm của tôi, bạn phải thực sự nhìn vào mô hình, đặc điểm công ty và khách hàng của bạn thì mới biết bắt đầu từ đâu và làm gì trước. Trải nghiệm nhân viên tốt thì trải nghiệm khách hàng tốt, sẽ khá đúng với những công ty mà tiếp xúc con người nhiều, như ngành dịch vụ, bán lẻ…  vì khi đó thái độ đóng vai trò tiên quyết, kiểu như bạn vui thì mới mang được niềm vui cho người khác. Nhưng ở nhiều mô hình và ngành nghề, việc tiếp xúc trực tiếp ít hơn thì lại khác. Do đó, nếu nói tổng quát thì mấu chốt vẫn là gắn kết. Hoặc CX = EX nói chơi chơi thì cũng được.
Một câu hỏi tôi cũng hay nhận được, làm EX trước hay CX trước?
Điều này thì tùy mục tiêu và bối cảnh. Nhưng nếu bạn muốn CX tốt mà đi làm EX là không đủ. Sai lầm này đến từ việc tư duy nhân - quả, tức tư duy EX là nhân và CX là quả, nên nhân phải có trước, vậy phải làm EX trước. Nhưng nếu bạn không biết bạn sẽ làm gì với khách hàng thì bạn sẽ gắn kết nhân viên của bạn quanh mục tiêu gì?
Amazon sẽ gắt kết nhân viên của mình quanh việc tạo nên thuận tiện cho khách hàng, Southwest Airline ghi nhận nhân viên mang lại trải nghiệm nhân văn…  Họ biết phải làm gì với khách hàng thì mới biết tuyển nhân viên như thế nào, đào tạo họ cái gì, ghi nhận họ cái gì… rất nhiều quyết định liên quan đến nhân viên thì bạn phải trả lời được khi có một la bàn CX rõ ràng, nếu đó là mục tiêu bạn hướng đến.
Do vậy, nếu muốn xác lập công thức, thì phải là CX + EX (EE) chứ không phải EX = CX.

Nguyễn Dương 

PHÂN BIỆT QUẢN TRỊ VÀ QUẢN LÝ

PHÂN BIỆT QUẢN TRỊ VÀ QUẢN LÝ Hội đồng quản trị, tiếng Anh là BOD (Board Of Directors). Còn Ban giám đốc hay Ban quản lý tiếng Anh là BOM (B...